Chùa Hà Tiên, điểm đến tâm linh Phật giáo

15/09/2011

 Chùa Hà – Hà Tiên tọa lạc trên đồi Hà – thuộc thôn Gia Viễn xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.Xưa xã Định Trung thuộc huyện Tam Dương – Thời Hùng Vương thuộc Phong Châu, thời Trần thuộc lộ Tam Đái, thời Nguyễn thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây; năm 1899, thành lập tỉnh Vĩnh Yên – nay là thôn Gia Viễn, xã Định Trung thuộc thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.


 

Thành phố Vĩnh Yên có nhiều ngôi cổ tự đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa là: Chùa Tích (Ngũ Phúc Tự), chùa Phú, chùa Hoa nở; Chùa Bảo Sơn, Chùa Đậu và Chùa Hà. Trong số đó, các ngôi cổ tự được người trong vùng coi là hàng Đại danh lam xưa có: Chùa Tích (Ngũ Phúc Tự): Khởi xây từ thời Lý Trần trên núi An (tức An Sơn) sau dời về làng Tích Sơn (nay là phường Tích Sơn), Chùa Hà Tiên (tức Hà Tiên Tự), tại đồi Hà, thôn Gia Viễn, xã Định Trung và còn có Chùa Bầu – trên núi Bầu – nay thuộc phường Liên Bảo – khởi xây thời Lý Trần thế kỷ 13.

Trong 3 ngôi đại danh lam nêu trên, qua những tư liệu hiện vật còn lưu lại tại khu vực nền của các ngôi chùa hiện nay đều khẳng định là có niên đại xây dựng thời Lý Trần, riêng chùa Hà do qua nhiều lần trùng tu, xây dựng, mặt bằng đã bị san ủi hết nên di vật còn lại không đủ để khẳng định niên đại khởi dựng, nay chỉ còn tư liệu chứng minh cho lần trùng tu lớn năm 1703 (năm Chính Hòa 24) ghi lại trên tấm bia Cây hương 4 mặt “Hà Tiên Thiên đài bi” tại chùa hiện nay.

 

Tuy vậy, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử Phật giáo VN, các chuyên gia khảo cổ đều có nhận định là chùa Hà Tiên chắc chắn được xây dựng thời Lý Trần, cùng với các đại danh lam: Ngũ Phúc Tự, chùa Bầu ở thành phố Vĩnh Yên cùng hệ thống Đại danh lam thời Lý Trần thuộc địa bàn vùng núi Tam Đảo và phụ cận mà nay đã và đang được phục hồi để trở thành những trung tâm Phật giáo, cũng là điểm đến của Phật tử thập phương và du khách trong và ngoài tỉnh.

Do sự biến động đổi thay, cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, chùa Hà bị hủy hoại hoàn toàn, đến khoảng những năm 60,70 của thế kỷ XX, nhân dân địa phương tận dụng những cơ sở công trình công cộng, bài trí tượng Phật, các đồ pháp khí còn lại làm nơi lễ Phật, cố gắng gìn giữ nơi chùa cảnh xưa để phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân trong vùng, vì thế chùa Hà tuy bị hủy hoại nhưng pháp luân vẫn luôn chuyển trong tâm thức của nhân dân, của Phật tử gần xa, luôn kính ngưỡng về suối nguồn đạo đức, tâm linh.

 

Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, trước khi có chủ trương xây dựng, trùng tu, phục hồi, chùa Hà Tiên có 3 gian bài trí 7 pho tượng Phật sử dụng như là chùa chính, 3 gian tiếp đón khách thập phương đồng thời làm nơi tu lễ, 2 gian tưởng niệm Bác Hồ, khu vườn gồm 8 ngôi tháp và cây si cổ thụ, dưới chân đồi phía Nam có giếng Hà, nơi Bác Hồ đã ngồi nghỉ vào năm 1961. Tất cả các công trình kiến trúc nêu trên đều là loại nhà cấp 4, xây tường đầu hồi bít đốc, quá giang gối tường, là những công trình phục vụ hợp tác xã và về sau Công ty Lâm nghiệp sử dụng làm nhà làm việc, ngoài ra còn có 2 bia đá: 1 cây hương “Hà Tiên Thiên đài bi” lập năm Chính Hòa thứ 24 (tức năm 1703) – ghi lại việc trùng tu chùa Hà, 1 tấm bia dẹt được tạo năm Quang Trung thứ 4 (1791); ghi lại sự việc nhà sư trụ trì là Tổ Tịnh Huân nguyện lập đàn tự hóa để cầu mưa cho thiên hạ, tránh được nạn hạn hán mất mùa đói kém, giải thoát tai ương cho nhân dân trong vùng, nay cứ đến ngày 1/6 âm lịch hàng năm là ngày kỵ nhật của Tổ, chúng Tăng đều tổ chức lễ giỗ Tổ trang trọng để bày tỏ sự tri ân với công đức của Tổ đã vì dân mà thăng hóa, chùa cũng còn lưu giữ 2 voi đá nhỏ.

Tương truyền, vào thời Hùng Chiêu Vương, khi quốc gia lâm sự, bà Lăng Thị Tiêu từ vùng Tây Thiên chiêu binh đánh giặc, trên đường về Phong Châu bà đã nghỉ lại chùa Hà, chiêu mộ thêm tráng đinh trong vùng để hội quân với Hùng Chiếu Vương ở Phong Châu – sau bà đuwojc tôn phong là “Quốc Mẫu Tây Thiên”. Vì vậy được nhân dân địa phương lập bài vị thờ Quốc Mẫu tại chùa, gọi là thờ “Đức Thánh Đại Vương”.

 

 

Ngày 25 tháng giêng năm 1961, sau khi về thăm HTX Nông nghiệp Bình Dương – huyện Vĩnh Tường, nơi có phong trào trồng cây điển hình của miền Bắc, Bác Hồ đã thăm và nghỉ trưa tại chùa Hà, Bác xuống giếng Ngọc (giếng Hà) để rửa, Bác khen nước giếng chùa Hà vừa trong vừa mát, tưởng nhớ công ơn bác đối với dân tộc và nhân dân trong tỉnh, địa phương đã dựng nhà lưu niệm Bác trong khuôn viên chùa, giếng Ngọc cũng là một trong những hạng mục công trình được đặc biệt quan tâm bảo tồn cùng với công trình tưởng niệm Bác Hồ trong lần trùng tu lớn hiện nay.

Kể từ sau khi trùng tu lớn năm 1703, chùa Hà thành một trung tâm tu tập lớn của Tăng Ni, nơi hoằng pháp cho đông đảo Phật tử trong vùng và phụ cận, có thời gian đã trở thành trung tâm đào tạo Phật giáo ở phía Bắc kinh thành Thăng Long, với vườn tháp còn nguyên vẹn 8 ngôi cổ tháp mộ mang những đặc điểm của mộ tháp sư thời Hậu Lê và thời Nguyễn – đã minh chứng sự ổn định lâu dài qua nhiều thế hệ Chư tổ trụ trì và viên tịch của Hà Tiên Tự, đồng thời khẳng định vị thế của chùa Hà trong hệ thống các ngôi chùa được phân bố khá đậm đặc trong vùng, là nguồn tư liệu quý để nguyên cứu tìm hiểu về giá trị kiến trúc nghệ thuật loại hình tháp mộ thời Hậu Lê ở Vĩnh Phúc và Việt Nam.

 

Với những giá trị về lịch sử và văn hóa được nêu khái quát trên, chùa Hà Tiên đã được UBND tỉnh Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc) ra quyết định xếp hạng là di tích LSVH cấp tỉnh, năm 1995.

2. Chùa Hà Tiên bước vào thế kỷ XXI:

Từ khi có Nghị quyết 05 của BCH TW khóa 8, đời sống văn hóa xã hội đã có những thay đổi và khởi sắc. Trong lĩnh vực Phật giáo ở Vĩnh Phúc, nhiều di tích kiến trúc Phật giáo được tu bổ, trùng tu, nhiều chùa đã có sư trụ trì, có tác động lớn đến việc bảo tồn di tích, hoằng dương Phật pháp, gìn giữ, duy trì và dần đưa những giáo lý của Đạo Phật đến với quần chúng nhân dân, góp phần làm sống lại những sắc thái văn hóa đạo đức trong xã hội.

 

Trong bối cảnh đó, Đại đức Thích Minh Trí, ủy viên hội đồng trị sự TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam, phó thư ký kiêm chánh văn phòng Thành hội Phật giáo thành phố Hà Nội đã phát tâm nguyện được về đồng sinh hoạt, hoằng pháp tại Vĩnh Phúc và được bổ nhiệm trụ trì chùa Hà Tiên (năm 2004).

Đồng cảm với nguyện ước của nhà sư trụ trì, Sở văn hóa thông tin và thể thao (nay là Sở văn hóa, thể thao và du lịch) đã tham mưu, đề xuất UBND tỉnh cho phép lập dự án quy hoạch, khôi phục, tôn tạo di tích chùa Hà. Tại quyết định số 1821/QĐ-UB ngày 17/5/2002, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch tổng thể xây dựng chùa Hà, xã Định Trung, thị xã Vĩnh Yên. Trong quá trình lập dự án quy hoạch, nhằm phù hợp với quy hoạch tổng thể thành phố Vĩnh Yên và các tiểu vùng liên quan, dự án điều chỉnh quy hoạch chi tiết khôi phục, tôn tạo khu di tích chùa Hà được UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh tại quyết định số 1932/QĐ-UBND ngày 18/8/2006 với tổng diện tích là 59.958m2, gồm 32 hạng mục công trình, tổng kinh phí dự toán vào năm 2006 là 59.310.000.000d ( năm mươi chín tỷ đồng) giao ban quản lý Di tích chùa Hà Tiên làm chủ đầu tư, toàn bộ công trình được chia làm 2 giai đoạn chính, giai đoạn 1: Xây lắp các hạng mục kiến trúc cơ bản:

-         Tam quan

-         Chính điện

-         Nhà Tổ

-         Nhà thờ Quốc Mẫu

-         Nhà khách

-         Hành lang

-         Nhà Tứ Ân

-         Nhà lưu niệm Bác Hồ

-         Lầu chuông

-         Lầu Trống

-         Thư viện

-         Tăng xá

-         Trai đường

-         Hệ thống sân, vườn

Dự án xây dựng chùa Hà trước hết là việc khôi phục một công trình văn hóa trọng điểm của tỉnh thuộc địa bàn Vĩnh Yên do UBND tỉnh chủ trương và quyết định, phù hợp những định hướng về gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng các yêu cầu của xã hội, trong bối cảnh cả đất nước đang trên đường hội nhập, góp phần nâng cao đời sống vật chất và thụ hưởng văn hóa của tất cả các giai tầng xã hội.

Dự án quy hoạch tổng thể xây dựng chùa Hà Tiên là chủ trương phù hợp với nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân xã Định Trung và thị xã Vĩnh Yên, về tâm linh và đạo đức, phù hợp nguyện ước của đại chúng Phật tử Vĩnh Yên và vùng phụ cận hướng về việc phục hưng một trung tâm hoằng pháp và đáp ứng được tâm nguyện tu tập của chư Tăng Ni tông môn trong vùng.

Thực hiện quyết định số 1932/QĐ-UBND ngày 18/8/2006 của UBND tỉnh, bắt đầu từ quý IV năm 2006, việc xây dựng chùa chính thức bắt đầu vận hành.

Từ chủ trương, quyết sách đúng đắn và phù hợp của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, sự đồng thuận của Ban trị sự Phật giáo Vĩnh Phúc, Phật giáo thành phố Hà Nội, được tất cả nhân dân, Phật tử gần xa nhất tâm đồng thuận, hoan hỷ công đức. Đặc biệt là công lao của nhà sư trụ trì, Đại đức Thích Minh Trí, Trưởng ban quản lý xây dựng chùa, người có vai trò quyết định từ những công việc ban đầu rất khó khăn, tìm nguyên vật liệu, toàn bộ số gỗ lim của công trình khoảng 2.400m3 được tìm mua từ các nguồn hợp pháp trong và ngoài nước, hàng nghìn mét khối đá xanh Thanh Hóa được đặt khai thác, chế tác, vận chuyển về công trình, hàng chục loại nguyên vật liệu từ khắp mọi miền trong cả nước được tìm tòi, khai thác, vận chuyển tập kết để cùng với các hiệp thợ chuyên ngành với nhiều nghệ nhân chuyên môn của các lĩnh vực như: sản xuất các loại cấu kiện gỗ, chế tác và điêu khắc đá, các hiệp thợ xây lắp bằng kỹ thuật thủ công từ các làng nghề truyền thống nổi tiếng, các loại công việc từ giản đơn đến phức tạp, huy động các nguồn nhân lực tại địa phương và các tỉnh… Đến việc quy tụ được sự gia tâm cúng dường Tam Bảo của rất nhiều thí chủ, đại thí chủ bằng tài lực, vật lực và công lực để qua 4 năm thi công, đến nay về cơ bản đảm bảo được tiến độ xây dựng và quan trọng hơn cả là công trình đã được tổ chức thực hiện thi công đúng theo định hướng ban đầu của dự án, tuân thủ nghiêm các trình tự quy định của pháp luật hiện hành, các hạng mục trọng yếu của giai đoạn 1 được hoàn thành đảm bảo tối đa về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật trang trí, điêu khắc; đạt yêu cầu cao về giá trị và ý nghĩa 1 công trình văn hóa tiêu biểu, thể hiện rõ nét sắc thái văn hóa truyền thống kiến trúc Phật giáo Việt Nam và sự tiếp biến các yếu tố văn hóa khu vực để tạo nên sự hòa quyện mang nét đặc trưng của chùa Hà Tiên, làm phong phú thêm hệ thống chùa cảnh trong tỉnh Vĩnh Phúc và vùng phụ cận.

Các hạng mục công trình đã được hoàn thành giai đoạn 1 có:

1-     Tam quan

2-     Chính điện

3-     Nhà Tổ

4-     Nhà thờ Quốc Mẫu

5-     Nhà khách

6-     Hành lang

7-     Nhà Tứ Ân

8-     Nhà lưu niệm Bác Hồ

9-     Lầu chuông

10- Lầu Trống

11- Thư viện

12- Tăng xá

13- Trai đường

Các hạng mục được  hoàn thành xây dựng trong giai đoạn 1, khánh thành và đưa vào sử dụng là những hạng mục chính phục vụ việc tu tập, hành đạo của chúng tăng, từng bước hoằng dương Phật pháp, tạo nên diện mạo chùa cảnh khang trang, gây dựng niềm tin cho chúng Phật tử xa gần tới chiêm bái, hành lễ, thính pháp.

Khánh thành giai đoạn 1 công trình xây dựng chùa Hà Tiên trong dịp cả nước tổ chức kỷ niệm thủ đô tròn nghìn năm tuổi. Sự khởi đầu đất đế của vua Lý Công Uẩn (1010) để từ đó, các triều đại phong kiến Việt Nam bắt đầu thời kỳ độc lập tự chủ, đất nước hòa bình, thịnh trị, một giai đoạn lịch sử vẻ vang làm rạng rỡ non sông bởi văn hóa, văn minh Lý Trần hình thành, phát triển và lưu dấu son trong mạch dòng lịch sử Việt Nam.

 

 

Nền tảng của văn minh Lý Trần có sự hiện diện và đóng góp rất lớn lao của Phật giáo, của các bậc minh sư giành tất cả trí tuệ, tâm huyết để cùng các bậc minh quân qua nhiều triều đại gây dựng và bồi đắp nên một nền tảng đạo đức xã hội tích cực và tiến bộ, làm rường cột để quản lý đất nước, xây dựng quốc gia, cố kết nhân tâm để có được quốc hiệu Đại Việt xứng đáng là một quốc gia giàu mạnh ở vùng Đông Nam Á thế kỷ XI đến thế kỷ XIV.

Vĩnh Phúc thời Lý Trần là thời kỳ hưng thịnh của khí thế vươn lên của mạch ngầm trí tuệ đã từng tiềm ẩn và nuôi dưỡng qua bao thế hệ, từ khởi thủy Hùng Vương 18 đời, biểu lộ thông qua hệ thống chùa tháp được xây dựng tại những vùng yếu địa, nơi hội thụ linh khí âm dương giao hòa trong suốt phần sơn hệ Tam Đảo, chạy dài qua chiều đông – tây của Vĩnh Phúc. Trong đó chùa Hà ở độ cao khoảng 30m, chùa Bầu (phường Liên Bảo) ở độ cao 54,68m, Ngũ Phúc Tự - nguyên là ở An Sơn, độ cao 43,2m (so với mực nước biển), đó đều là những cao điểm nổi bật giữa vùng trung du đang trải dần độ cao theo hướng phát triển của quá trình biến động địa chất ở kỳ Tri át (cách nay khoảng 14 triệu năm) hình thành núi Tam Đảo, đồi trung du của vùng Tam Dương, Bình Xuyên (nay thuộc huyện Tam Đảo) và trải xuống đến Vĩnh Yên trước khi kết thúc phần sơn hệ Tam Đảo về phía nam, tiếp giáp vùng đồng bằng Châu thổ cùng các con sông  Phan, sông Hồng, hình thành nên những vùng đất thuần hậu, những nơi cư trú đầu tiên của người Việt cổ thời sơ sử quốc gia Văn Lang.

 

 

Thăng Long, thế đất Rồng bay lên là nơi hội tụ khí thiêng sông núi mạch nguồn. Vĩnh Phúc là đất cận kề và ở về phía thượng lưu sông Cái ( sông Hồng ) Thăng Long là đất đế đô của các vua Lý Trần, Vĩnh Phúc là đất cất chùa của các đời vua Đại Việt, một mối quan hệ tương liên, tương quan mật thiết giữa thượng nguồn và hạ lưu, đất để đô và vùng tâm linh sơn địa.

Vậy thì, chùa Hà trong lịch sử hình thành và tồn tại cũng là sự thể hiện những mối quan hệ gắn bó đó với vùng đất đã được Lý Công Uẩn chọn để dựng đô năm 1010.

 

Các tin đã đưa ngày: