Báo cáo số 169/BC-UBND ngày 17/12/2010 của UBND thành phố Vĩnh Yên về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng năm 2010, phương hướng nhiệm vụ năm 2011

23/03/2011

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

Số:169/BC-UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Vĩnh Yên, ngày 17 tháng 12 năm 2010


BÁO CÁO
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh - quốc phòng năm 2010, phương hướng nhiệm vụ năm 2011

Phần thứ nhất
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010.

I- Phát triển kinh tế:

Tình hình kinh tế thành phố năm 2010 tiếp tục tăng trưởng ổn định, các chỉ tiêu đều hoàn thành kế hoạch và vượt so với cùng kỳ, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng tích cực. Tổng giá trị sản xuất ước đạt 7.577,5 tỷ đồng đạt 101,7% kế hoạch, tăng 24,2% so với cùng kỳ, trong đó: Tổng giá trị gia tăng ước đạt 5.476 tỷ đồng đạt 102,34% kế hoạch, tăng 24,8% so với cùng kỳ; Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 2.936 USD.

1- Kết quả thực hiện sản xuất Công nghiệp - xây dựng:

Giá trị sản xuất  công nghiệp – xây dựng (Theo giá cố định 94) uớc đạt 5.616,8 tỷ đồng,  đạt 101,85% so với kế hoạch, tăng  24,4% so với cùng kỳ, cụ thể:

a. Về công nghiệp: Giá trị sản xuất ước đạt 5.191,9 tỷ đồng, đạt 100,25% so với kế hoạch và tăng 23,9% so với cùng kỳ.

- Công nghiệp Quốc doanh: Giá trị sản xuất ước đạt 7,7 tỷ đồng, đạt 109,22 % so với kế hoạch, tăng 13,57% so với cùng kỳ.

 - Công nghiệp ngoài Quốc doanh: Giá trị sản xuất ước đạt 2.358,4 tỷ đồng đạt 100,23% so với kế hoạch, tăng 25,93% so với cùng kỳ.

- Công nghiệp có vốn đầu t­ư n­ước ngoài: Giá trị sản xuất ước đạt 2.825,8 tỷ đồng, đạt 100,1% so với kế hoạch, tăng 22,45% so với cùng kỳ.

b. Về giá trị xây dựng: Giá trị sản xuất ước đạt 424,9 tỷ đồng, đạt 126,46 % so với kế hoạch, tăng 30,14% so với cùng kỳ.

Mặc dù trong năm 2010, tình hình thiếu điện thường xuyên đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất. Song, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn ổn định và tăng so với cùng kỳ. Nhiều mặt hàng vẫn ổn định, nhất là công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng, các ngành sản xuất nước đóng chai, nước sinh hoạt, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Đạt được những kết quả đó, trước hết là sự chỉ đạo quyết liệt của thành phố, sự linh hoạt của các thành phần kinh tế, đã khắc phục khó khăn duy trì và đẩy mạnh sản xuất.

2. Kết quả hoạt động kinh doanh các ngành dịch vụ:  

Tổng giá trị sản xuất năm 2010 ước đạt 1.862 tỷ đồng, đạt 103,18% so kế hoạch, tăng 25,18% so cùng kỳ.

Năm 2010 thị trường nhiều biến động. Song, hoạt động dịch vụ trên địa bàn tiếp tục có sự phát triển, đặc biệt là hàng hóa có chất lượng cao, các mặt hàng thiết yếu đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Hoạt động ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng ổn định, có hiệu quả. Một số trung tâm thương mại lớn được hình thành như siêu thị Bic- C; Sài gòn Max đã đi vào hoạt động, làm tăng nhu cầu trao đổi hàng hoá và thu hút được sức mua trong nhân dân. Công tác quản lý nhà nước về chống gian lận thương mại, hàng không nhãn mác, hàng giả, được các ngành chức năng của thành phố, thường xuyên kiểm tra xử lý vi phạm. Các đơn vị, hộ kinh doanh mạnh dạn mở rộng quy mô kinh doanh, như các dịch vụ ăn, nghỉ, đặc biệt là các loại hình dịch vụ vận tải hàng hóa, phục vụ đi lại của nhân dân ngày càng được đầu tư, đáp ứng đ­ược nhu cầu và xu hướng phát triển của thành phố.

3- Kết quả sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản:

Tổng giá trị ước đạt 98,7 tỷ đồng, đạt 100,49% so với kế hoạch, tăng 2,6% so với cùng kỳ. Cụ thể từng ngành như sau:

a. Sản xuất nông nghiệp: Giá trị sản xuất Nông nghiệp ước đạt 93,87 tỷ đồng, đạt 99,33% so với kế hoạch, tăng 2,4% so với cùng kỳ, trong đó:

-  Về trồng trọt:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 3.434 ha, giảm 7,8% so với kế hoạch và tăng 14,8% so cùng kỳ;

+ Cây lúa: Diện tích gieo trồng đạt 2.434 ha đạt 97,2% so kế hoạch, giảm 2,8% so cùng kỳ, năng suất 47,9 tạ/ha.

- Về chăn nuôi:

+ Tổng đàn trâu 320 con, đạt 71,1% so với kế hoạch và tăng 3,5% so với cùng kỳ.

+ Tổng đàn bò 3.450 con , đạt 86,25% so với kế hoạch và bằng  91,2% so với cùng kỳ.

+ Tổng đàn lợn  30.500 con, đạt 87,14% so với kế hoạch và  giảm 3,4 % so với cùng kỳ.

+ Tổng đàn gia cầm ước đạt 235.000 con, đạt 95,61% so với kế hoạch và tăng 6,4% so với cùng kỳ.

-  Về Sản xuất Lâm nghiệp; Thuỷ sản:

+ Sản xuất Lâm nghiệp:  Giá trị sản xuất ước đạt 170 triệu đồng, đạt 113,33% so với kế hoạch, tăng 13,3% so với cùng kỳ.

+ Sản xuất Thuỷ sản:  Giá trị sản xuất ước đạt 4,66 tỷ đồng, đạt 125,95% so kế hoạch, tăng 5,9% so với cùng kỳ,.

Tuy sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn thời tiết thất thường, dịch bệnh, chi phí đầu vào tăng như: Giá cả các loại vật tư phân bón, xăng dầu, cước phí vận chuyển, công lao động tăng cao so với giá nông sản đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất... Song, với sự chỉ đạo tích cực của các cấp, các ngành đặc biệt là sự cố gắng nhân dân, tình hình sản xuất vẫn duy trì ở mức ổn định. Hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp phát triển khá, các dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật, cung cấp giống, phân bón, vật tư nông nghiệp  đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất của nông dân.

4- Về khoa học công nghệ:

Công tác khoa học công nghệ có nhiều chuyển biến tích cực, việc xây dựng và triển khai các dự án chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ như: triển khai nhân rộng mô hình nhà lưới quy mô nhỏ trồng rau an toàn trên địa bàn, phát triển các giống cây ăn quả chất lượng cao, dự án vi sinh, khử trùng, tiêu độc, phòng chống dịch bệnh. Thành phố thường xuyên phối hợp với các cơ quan khoa học, các sở, ngành, các đoàn thể, tổ chức tập huấn chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ áp dụng vào thực tế trong nhân dân.

5- Công tác thu chi ngân sách:

a- Về thu ngân sách: Tổng thu cả năm ước đạt 939, 227 tỷ đồng tăng 15% dự toán tỉnh giao, đạt 103% dự toán thành phố, tăng 6 % so cùng kỳ. (ngân sách thành phố hưởng 330, 275 tỷ đồng, ngân sách xã, phường hưởng 149, 878 tỷ đồng) trong đó:

+ Thu nội địa: ước đạt 714, 602 tỷ đồng, tăng 36% dự toán tỉnh giao; tăng 15% dự toán thành phố giao và đạt 103% so cùng kỳ.

+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên ước đạt 170, 217 tỷ đồng

+ Thu kết dư ngân sách ước đạt 8,559 tỷ đồng

+ Thu chuyển nguồn ước đạt 39,539 tỷ đồng.

Có được kết quả đó là do sự lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả của Thành uỷ, UBND thành phố; sự phối hợp chặt chẽ có hiệu quả của các cấp, các ngành, đã kịp thời  tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất phát triển, thành phố đã tích cực triển khai nhiều giải pháp chống thất thu ngân sách.

b- Về chi ngân sách: Tổng chi ngân sách ước đạt 308, 343 tỷ đồng, tăng 47% dự toán tỉnh giao; 22% dự toán thành phố giao và vượt 12% so cùng kỳ. Trong đó bao gồm:

+ Chi đầu tư phát triển ước thực hiện 154, 228 tỷ đồng tăng 110% so dự toán tỉnh giao; tăng 50% dự toán thành phố giao

+ Chi thường xuyên ước thực hiện 129, 549 tỷ đồng vượt 36% dự toán tỉnh giao, tăng 16% dự toán thành phố giao

+ Chi trợ cấp ngân sách cấp dưới: ước thực hiện 24, 567 tỷ đồng tăng 67% dự toán tỉnh giao, tăng 56% dự toán thành phố giao (Bao gồm trợ cấp cân đối ngân sách xã và chi trả lương y tế).

Năm 2010 chi ngân sách đảm bảo đúng dự toán, đảm bảo phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố, các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính đã thực hiện đúng chế độ, chính sách tiết kiệm, chống lãng phí, công tác kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước, được thành phố thường xuyên quan tâm chỉ đạo.

II- Công tác quy hoạch XDCB; qlđt; TNMT và GPMB

1- Công tác quy hoạch

Trong năm, thành phố tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt, từng bước hoàn thành quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết theo từng giai đoạn cho các xã, phường, hệ thống giao thông, các công trình công cộng…Tổng diện tích 306,342ha, trong đó nhiều dự án qui hoạch quan trọng đã được triển khai thực hiện như: Quy hoạch 05 khu đô thị; quy hoạch chi tiết các khu đất dịch vụ, tái định cư; giới thiệu địa điểm quy hoạch cho 17 doanh nghiệp và 10 cơ quan nhà nước. Thành phố đã chỉ đạo các phòng, ban chức năng, UBND xã, phường, tiếp tục triển khai lập quy hoạch chi tiết các khu dân cư, thiết chế văn hóa, đất dịch vụ…

2- Công tác xây dựng cơ bản – phát triển giao thông:

a- Công tác XDCB: Năm 2010 giá trị XDCB trên địa bàn thành phố ước đạt 866,2 tỷ đồng, đạt 108% so kế hoạch, tăng 10,8 % so với cùng kỳ, trong đó:

+ Công trình giao thông, cấp thoát nước, thủy lợi 211,3 tỷ đồng

+ Công trình công cộng, hạ tầng, trụ sở: 194,3 tỷ đồng

+ Công trình y tế, giáo dục 75 tỷ đồng

+ Công trình văn hóa thể thao 26,1 tỷ đồng

+ Các doanh nghiệp đầu tư XDCB 239,5 tỷ đồng

+ Xây dựng nhà ở tư nhân 120 tỷ đồng

Riêng thành phố và các đơn vị trực thuộc thành phố đầu tư XDCB ước đạt 281,7 tỷ đồng, đạt 139,9% kế hoạch, tăng 22,4% so cùng kỳ, cụ thể:

+ Công trình giao thông, cấp thoát nước, thủy lợi 96,3 tỷ đồng

+ Công trình y tế, giáo dục 26 tỷ đồng

+ Công trình văn hóa thể thao 14,1 tỷ đồng

+ Công trình công cộng, hạ tầng,  145,3 tỷ đồng

b- Công tác phát triển giao thông: Đã tập trung triển khai cứng hóa được 21,75 km, rãnh xây gạch, lát hè đường 30.000m2, tổng kinh phí đầu tư 38,5 tỷ đồng.

c- Công tác quản lý đô thị: Công tác quản lý đô thị tiếp tục được quan tâm, triển khai đồng bộ từ thành phố tới xã, phường, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân, chấp hành các quy định về thực hiện nếp sống văn minh đô thị, và vệ sinh môi trường. Tích cực kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời, những tập thể, cá nhân vi phạm.

Trong năm, thành phố đã tổ chức nhiều đợt ra quân giải tỏa hành lang ATGT trên các tuyến đường giao thông đô thị, các tụ điểm giao thông phức tạp, giải tỏa lều lán, mái vẩy vi phạm hành lang ATGT. Chỉ đạo các ngành tổ chức tháo dỡ 73 lều bán hàng, 703 băngzon, biển quảng cáo vi phạm về địa điểm; tháo dỡ 17 công trình xây dựng trái phép.  

d- Công tác đền bù – GPMB: Năm 2010, UBND thành phố đã tiến hành triển khai tính toán bồi thường giải phóng mặt bằng cho 87 dự án, với tổng diện tích 62,69 ha, liên quan đến 1.585 lượt hộ. Trong đó 25 dự án đã hoàn thành, 15 dự án còn gặp khó khăn về vốn và giải phóng mặt bằng; Còn 47 dự án mới chưa được phê duyệt phương án bồi thường GPMB

Trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng  một số dự án còn kéo dài, chậm tiến độ như: Dự án xây dựng trường Quốc tế UNIS CAMPUS; Dự án đường vành đai phía bắc giai đoạn 2; Dự án hạ tầng tái định cư đường vành đai phía bắc… nguyên nhân chủ yếu do người dân đòi giá đền bù cao hơn với giá nhà nước qui định. Việc thực hiện chủ trương đất dịch vụ khi triển khai còn gặp nhiều khó khăn. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa kịp thời và  chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong cả hệ thống chính trị từ thành phố tới cơ sở.

3- Công tác Tài nguyên- Môi tr­ường: Thường xuyên chỉ đạo tiến hành kiểm tra, rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Chỉ đạo thực hiện hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị đã đăng ký.

Năm 2010 đã quyết định và trình cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để giao thực hiện các dự án khu dân cư, khu đô thị, cụ thể triển khai 18 dự án quy hoạch đất dân cư và dịch vụ, tổng diện tích 65,16ha; 29 dự án xây dựng công trình công cộng, đất doanh nghiệp với diện tích 179,92ha. Tổng diện đất nông nghiệp phải thu hồi 279,67 ha, quyết định thu hồi 1.124 lượt hộ.

Giao đất ở cho 160 hộ, công tác cấp GCN, thẩm định hồ sơ chuyển nhượng …được triển khai thực hiện nghiêm túc và cấp 4.070 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tăng 105% so với cùng kỳ.

Công tác quản lý đô thị, Tài nguyên môi trường và xây dựng cơ bản năm 2010 đã có bước chuyển biến tích cực, từng bước tạo được bộ mặt đô thị xanh- sạch - đẹp, đường thông hè thoáng, đáp ứng sự phát triển của thành phố, các công trình chỉnh trang đô thị từng bước được đầu tư thỏa đáng. Tuy vậy vẫn còn tồn tại như: Tình trạng xây dựng trái phép, không phép, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, đổ rác thải ra đường phố vẫn xảy ra ở một số nơi. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các quy định về quản lý đô thị còn hạn chế; Một số đơn vị xã, phường chưa tích cực kiểm tra, xử lý vi phạm. ý thức của một số người dân chưa cao; Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường còn yếu.

III- Về văn hoá - xã hội.

1- Về công tác giáo dục- đào tạo: Năm học 2009 – 2010 chất lượng ngành giáo dục của thành phố từng bước được nâng lên cả về qui mô, chất lượng dạy và học.

a- Giáo dục mầm non: Ngành mầm non thành phố tiếp tục duy trì ổn định và huy động trẻ trong độ tuổi đến trường đạt 100%. Cơ sở vật chất được đầu tư, chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ được trú trọng;

b- Giáo dục tiểu học: Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng cao, trong năm học qua thành phố không có học sinh bỏ học. Kết quả xếp loại hai mặt cả năm như sau:

+ 100% học sinh đạt Hạnh kiểm thực hiện đầy đủ.

+ Về học lực: Loại giỏi đạt 51,55%; loại khá 26, 73%; loại trung bình 20,18%; loại yếu  1,54%.

Kết quả học sinh giỏi lớp 5: Đạt giải tỉnh tăng 38 giải so với cùng kỳ. Thi giao lưu học sinh giỏi quốc gia, tăng 10 giải so với năm học trước.

Công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 được đẩy mạnh, trong năm trường TH Liên Minh và trường TH Đống Đa đã được công nhận đạt chuẩn mức độ 2.

c- Giáo dục trung học cơ sở:

 + Về hạnh kiểm: loại tốt đạt 82,18%; loại khá đạt 15,99%; Loại trung bình đạt 1,77%; loại yếu 0,06%. So với năm học trước loại tốt, khá tăng 0,18%, loại trung bình giảm 0,18%.

+ Về học lực: xếp loại giỏi chiếm 23,5%; loại khá 40,46 %; loại trung bình 32,93%; loại yếu 3,06 % và loại kém 0,04%. So với năm học trước loại giỏi, khá tăng 1,48%; loại trung bình giảm 0,33%; loại kém giảm 0,02%.

+ Học sinh giỏi lớp 9 dự thi vòng tỉnh, quốc gia: 109 học sinh đạt giải cấp tỉnh; 04 học sinh đạt giải quốc gia.

+ Học sinh thi tuyển đỗ vào lớp 10 đạt 75,4%.

d- Về công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý: Số giáo viên đạt trình độ chuẩn trở lên của toàn ngành là 848 chiếm 98,15%; Trình độ trên chuẩn là 534 chiếm 61,8%.

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của thành phố tiếp tục phát triển, thành phố đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành và các trường học đề ra những nhiệm vụ, giải pháp tích cực như; Xây dựng kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ làm công tác quản lý, đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên có tâm huyết, trách nhiệm với nghề.

2- Công tác y tế; Dân số KHHGĐ- chăm sóc giáo dục trẻ em:

Mạng lưới y tế được tăng cường, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được quan tâm. Công tác phòng bệnh, giám sát dịch bệnh được tăng cường như: Tiêm chủng mở rộng; Chăm sóc sức khỏe trẻ em và phòng chống suy dinh dưỡng...  Tăng cường chỉ đạo triển khai công tác y tế dự phòng, giám sát các dịch bệnh nguy hiểm. Toàn thành phố hiện có 7/9 Trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ bác sỹ trên 1 vạn dân của thành phố là 10 bác sỹ.

Tăng cường chỉ đạo đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiến hành kiểm tra 142 cơ sở trên địa bàn thành phố, tập trung vào các nhà hàng ăn uống và thức ăn đường phố, bếp ăn tập thể, cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm, nước đóng chai... Qua kiểm tra đã phát hiện 21 cơ sở vi phạm, xử phạt 07 cơ sở, nhắc nhở 14 cơ sở. Trong năm 2010, trên địa bàn thành phố không có ngộ độc thực phẩm lớn xảy ra.

Công tác dân số KHHGD và trẻ em được quan tâm; tiếp tục duy trì củng cố các mô hình câu lạc bộ gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc; Tổ chức các hoạt động tặng quà nhân các ngày thiếu nhi 1-6, tết trung thu cho các cháu thiếu nhi. Tổ chức phẫu thuật cho 20 cháu bị khuyết tật bẩm sinh, cấp thẻ khám chữa bệnh cho 100% các cháu dưới 6 tuổi.

3- Công tác Văn hoá thông tin và truyền thanh:

Hoạt động văn hoá, thông tin, truyền thanh, được tổ chức với nhiều nội dung và hình thức phong phú phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương như: Tuyên truyền và phục vụ thành công Đại hội Đảng bộ thành phố khóa 19, Đại hội Đảng bộ tỉnh… từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân.

Công tác quản lý nhà nước về các hoạt động văn hóa thông tin được coi trọng, thường xuyên tổ chức kiểm tra các dịch vụ văn hóa và hoạt động văn hóa, tập trung vào các dịch vụ Karaoke, cafe ca nhạc, nhà hàng, khách sạn, băng đĩa; rà soát, chấn chỉnh kịp thời các vi phạm về biển, bảng cửa hàng, quảng cáo đường phố, lấn chiếm vỉa hè gây mất mỹ quan đô thị…hạn chế các hiện tượng vi phạm văn hóa, hoạt động kinh doanh cơ bản chấp hành đúng quy định.

Công tác xây dựng làng, tổ dân phố văn hóa: Năm 2010, số làng, tổ dân phố văn hóa đạt 92/121 làng, tổ dân phố văn hóa tăng 01 làng so với 2009 đạt kế hoạch đề ra; Số hộ gia đình văn hóa ước đạt 90% tăng 2% so với năm 2009. Xây dựng mới 04 NVH nâng tổng số NVH trên địa bàn lên 90 nhà đạt tỷ lệ 80% khu dân cư có NVH.

Về hoạt động TDTT: Thành phố đã đưa vào sử dụng sân vận động thuộc công viên văn hóa thể thao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động TDTT. Tiếp tục duy trì 04 lớp năng khiếu gồm bóng bàn, cầu lông, cờ vua, bóng đá theo Chương trình phát triển sự nghiệp TDTT thành phố giai đoạn 2007- 2010, hướng dẫn và tạo điều kiện cho 35  CLB thể thao trên địa bàn hoạt động thường xuyên. Năm 2010 đoàn thể thao thành phố tham gia Đại hội TDTT tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ III, tiếp tục khẳng định vai trò vị trí của thành phố là đơn vị đứng đầu toàn tỉnh, kết quả tham gia thi đấu với 48 huy chương các loại, trong đó 24 HCV, 15 HCB, 09 HCĐ.

5- Thực hiện các chế độ chính sách – xã hội:

Công tác chăm lo đời sống cho nhân dân, các đối tượng chính sách xã hội, tiếp tục được các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc. Hàng tháng chi trả chế độ cho các đối tượng đầy đủ, kịp thời đảm bảo đúng chế độ, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như: tổ chức thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách, người có công; đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, số tiền vận động trong năm là: 175,271 triệu đồng, hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 23 ngôi nhà với tổng số tiền hỗ trợ là 465 triệu đồng; Tổ chức trao tặng 73 vô tuyến cho cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, mẹ VNAH... Từng bước nâng cao nhu cầu sinh hoạt của nhân dân như ăn, ở đi lại, nghe nhìn và khám chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Nhìn chung công tác văn hóa – xã hội năm 2010 vẫn còn bộc lộ một số những hạn chế như: Công tác giáo dục đào tạo tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực, song chất lượng một số mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề chưa thu hút được đông đảo học sinh theo học. Phương pháp dạy học ở một bộ phận giáo viên chất lượng chưa cao. Công tác xã hội hóa y tế còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất và công tác khám chữa bệnh ban đầu ở tuyến cơ sở còn  một số mặt chưa đáp ứng được nhu cầu cho nhân dân. Công tác xã hội hóa về thể thao chưa được chú trọng, triển khai xây dựng thiết chế văn hóa thể thao còn chậm.

IV- Công tác an ninh quốc phòng:

1- Về công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội:

a. Tình hình an ninh chính trị: Tình hình ANCT nhìn chung ổn định, chưa phát hiện hoạt động phá hoại hoặc có những hoạt động lôi kéo; không có đột xuất bất ngờ và điểm nóng xẩy ra. Bên cạnh đó nổi lên một số tình hình đáng chú ý đó là: Trong các doanh nghiệp nước ngoài xẩy ra các vụ đình công, tình hình lấn chiếm đất công xây dựng trái phép vẫn còn diễn ra…

b. Về trật tự an toàn xã hội: Tình hình phạm pháp hình sự có xu hướng tăng, đặc biệt là các loại tội trộm cắp và cướp giật tài sản, trong năm đã xẩy ra 190 vụ tăng 47 vụ so với năm 2009;  Đã điều tra làm rõ 129 vụ đạt tỷ lệ 67,9%. Trong đó; 27 vụ liên quan đến tệ nạn ma túy; cờ bạc 38 vụ, mại dâm 4 vụ; tai nạn giao thông đường bộ xẩy ra 29 vụ, tăng 5 vụ so với năm 2009…

2- Về công tác quân sự quốc phòng:

Công tác quân sự quốc phòng được các cấp, các ngành, đoàn thể nhân dân phối hợp thực hiện đạt kết quả cao, chất lượng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thành phố được nâng lên. Lực lượng thường trực thực hiện đúng tổ chức, biên chế theo quy định. Lực lượng Dân quân tự vệ được quan tâm xây dựng và củng cố. Năm 2010 đã kiện toàn 105/105 đơn vị dân quân tự vệ. Công tác tuyển quân được chỉ đạo thực hiện đúng luật nghĩa vụ quân sự, đảm bảo chặt chẽ, đúng thủ tục, công khai, dân chủ. Hệ thống kế hoạch sẵn sàng chiến đấu từ thành phố tới cơ sở, được điều chỉnh sát với tình hình, đảm bảo thống nhất; Bảo vệ an toàn tuyệt đối đại hội đảng các cấp. Tổ chức thành công diễn tập chiến đấu bảo vệ trị an tại phường Tích Sơn.

3- Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm:

Năm 2010, công tác thanh tra, kiểm tra, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của thành phố được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và chương trình đã đề ra.

Công tác tiếp công dân: Năm 2010, thành phố đã tiếp và trả lời 261 lượt người đến phản ánh với 191 ý kiến, so với cùng kỳ  tăng 12 ý kiến. (Trong đó: Thành phố tiếp và trả lời 158  lượt người với 88 ý kiến, so cùng kỳ tăng 11 ý kiến, bằng 14,28%; xã, phường 103 lượt với 103 ý kiến, so cùng kỳ tăng 01 ý kiến). Tiếp 24 đoàn đông người. Những nội dung nhân dân đến phản ánh đều được UBND thành phố, UBND xã, phường xem xét giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền. Nhận 259 đơn gồm: 05 đơn khiếu nại, 08 đơn tố cáo và 246 đơn đề nghị. So cùng kỳ tăng 69 đơn, bằng 36,31%. Trong đó có 48 đơn trùng lặp; đã xử lý, chuyển trả lại hướng dẫn theo qui định 32 đơn không thuộc thẩm quyền.

Kết quả giải quyết: Đã giải quyết xong 159/179 đơn đạt 88,82%. Trong đó: cấp thành phố đã giải quyết xong 81/85 đơn đạt 95,29%. Cấp xã, phường đã giải quyết xong 78/94 đơn đạt 82,97%, hiện còn 16 đơn đang được các đơn vị xem xét giải quyết.

Nội dung công dân phản ánh    gửi đơn chủ yếu về thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai, tài sản, vệ sinh môi trường, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư đã có nhiều chuyển biến tích cực, một số vụ việc phức tạp đã được tập trung xem xét giải quyết dứt điểm.

 Về công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí: Năm 2010, đã tập trung triển khai tổ chức thực hiện toàn diện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các vi phạm theo luật phòng chống tham nhũng. Chỉ đạo các ngành tiến hành kiểm tra, thanh tra trên một số lĩnh vực kinh tế, xã hội dễ xảy ra tiêu cực lãng phí; đẩy mạnh việc công khai minh bạch, nhất là công khai, minh bạch trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, phân bổ kinh phí, thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập.

4- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật:

Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, được tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, thường xuyên chỉ đạo các ngành tăng cường công tác giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và xây dựng rà soát văn bản pháp quy, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật. Chỉ đạo các xã, phường tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai, khiếu nại, Luật bình đẳng giới, Luật thuế thu nhập cá nhân, luật giao thông đướng bộ, Luật công chứng, Luật thi hành án dân sự. Trong năm đã biên tập, in 33.600 tờ gấp với nội dung tuyên truyền một số quy định của pháp luật về giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất, một số quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính…Phối hợp với sở tư pháp cung cấp 250 CD và 480 cuấn bản tin tư pháp cho các xã, phường. Thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho 35 đối tượng.

V- Công tác xây dựng và củng cố chính quyền:

UBND thành phố đã bám sát quy định của Luật và Quy chế đã đề ra, chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà n­ước, các văn bản của cơ quan nhà n­ước cấp trên, để lãnh đạo điều hành mọi lĩnh vực, đảm bảo đúng luật định. Th­ường trực UBND thành phố luôn linh hoạt điều hành thực hiện tốt các nhiệm vụ của địa phương. Tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Ch­ương trình công tác của UBND thành phố năm 2010, bám sát chủ tr­ương, Nghị quyết, Chương trình của Ban Thường vụ Thành uỷ. Một số nhiệm vụ trọng tâm đ­ược thường trực UBND thành phố chỉ đạo đạt kết quả tốt­:

 Công tác cải cách hành chính của UBND thành phố đã bám sát nội dung, yêu cầu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Bộ phận một cửa hiện đại đã được UBND thành phố đưa vào hoạt động từ tháng 7/2010, bước đầu được đánh giá là một bước chuyển biến tích cực trong thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010. Các văn bản QPPL của thành phố ban hành đúng quy định pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Đội ngũ cán bộ, công chức của thành phố  đạt chuẩn trên 90%, cấp xã phường đạt chuẩn trên 80%. Bộ máy chính quyền các cấp được tổ chức tinh gọn hơn.

Chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các quy định, nội dung về quy chế dân chủ tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, động viên nhân dân tích cực thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, làm giàu cho xã hội và đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng.

VI. Đánh giá chung:

1. Ưu điểm:

Năm 2010, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ của các sở ban ngành. UBND thành phố chỉ đạo quyết liệt các phòng, ban, đơn vị, UBND các xã, phường căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ đề ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả nhất. Khắc phục khó khăn, tận dụng tốt các cơ hội, sáng tạo, linh hoạt trong quản lý điều hành. Do vậy tình hình KTXH của thành phố tiếp tục phát triển trên các lĩnh vực, cơ bản các chỉ tiêu đã hoàn thành kế hoạch, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; Công tác quy hoạch, XDCB và quản lý đô thị có nhiều chuyển biến. Khai thác tốt các nguồn thu, đảm bảo nguồn chi phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố.

Các hoạt động văn hóa xã hội có tiến bộ rõ rệt, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân. Công tác giáo dục đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện các chế độ chính sách, giải quyết việc làm, giảm nghèo thu được nhiều kết quả tích cực. Công tác cải cách hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính có sự chuyển biến tích cực, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí được quan tâm và chỉ đạo quyết liệt; Công tác thanh tra, giải quyết đơn, thư khiếu nại của nhân dân được giải quyết kịp thời; An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định;

2. Tồn tại:

Kinh tế phát triển, song chưa bền vững, hạ tầng kinh tế kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của thành phố. Phát triển văn hóa xã hội còn một số mặt hạn chế, chưa thực sự đi đôi với phát triển kinh tế; Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước ở một số phòng, ban và xã, phường còn hạn chế về năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm và tác phong làm việc; ý thức chấp hành của một số người dân về văn minh đô thị chưa cao. Tình trạng lấn chiếm đất công vẫn xẩy ra, ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục. Tình hình trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp.

3. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên đó là:

- Nguyên nhân khách quan:

Một số cơ chế chính sách của cấp trên còn chậm ban hành, chưa đồng bộ, thiếu tính ổn định, thống nhất. Tình hình kinh tế thị trường diễn biến phức tạp, giá cả tăng nhanh, cung ứng điện chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh, tình hình thời tiết gặp nhiều bất lợi. Nhận thức của một bộ phận nhân dân về pháp luật, thực hiện nếp sống văn minh đô thị còn hạn chế.

- Nguyên nhân chủ quan:

Cán bộ của một số các phòng, ban và chính quyền cơ sở chưa chủ động tích cực, học tập rèn luyện nâng cao trình độ, đạo đức tác phong phục vụ nhân dân. Công tác quản lý đất đai, quản lý đô thị ở một số xã, phường còn yếu. Tình hình về trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Nhận thức về pháp luật, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn vệ sinh môi trường của một số bộ phận nhân dân còn hạn chế.

 Sự phối hợp giữa các xã, phường với các phòng ban chuyên môn trong giải quyết đơn thư của công dân có lúc, có việc chưa tập trung chỉ đạo dứt điểm, Công tác vận động quần chúng nhân dân chưa có sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức đoàn thể ở cơ sở, tình trạng tập trung đông người khiếu kiện, dựng lều quán tại các dự án vẫn còn diễn ra trên địa bàn.

Phần thứ hai
Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2011

1. Một số chỉ tiêu năm 2011:

a- Một số chỉ tiêu về Kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng 20%, trong đó:

+ Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,3%

+ Công nghiệp-Xây dựng tăng 19,4%

+ Dịch vụ tăng 26,4%

- Cơ cấu giá trị theo ngành

+ Nông, lâm nghiệp, thủy sản 2,07%

+ Công nghiệp-Xây dựng 49,73%

+ Dịch vụ 48,2%

b. Một số chỉ tiêu về xã hội:

- Giải quyết lao động có việc làm 1200 lao động;

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1 %;

- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi: dưới 14,5%;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 50%;

- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia: 3,8%

- Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn GĐVH: 91%

- Số làng, khu phố VH: 91 làng.

2. Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:

Về Phát triển công nghiệp: Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp tạo nền tảng cho thương mại – dịch vụ phát triển.

Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư của tỉnh để khuyến khích và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài địa bàn đến sản xuất kinh doanh, như: cơ chế, chính sách, môi trường thông thoáng, thuận lợi như thủ tục hành chính, xây dựng hạ tầng, huy động vốn, đất đai, GPMB... Bên cạnh đó cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp về quản lý, thị trường, lao động, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp xây dựng phát triển. Cần quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động như: Hợp đồng lao động, Bảo hiểm và các chế độ khác cho người lao động. Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trường nhất là ở các khu, cụm công nghiệp.

Về phát triển thương mại – dịch vụ: Phát triển mạnh thương mại – dịch vụ để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố.

Tập trung đẩy mạnh các loại hình kinh doanh thương mại – dịch vụ, tạo điều kiện tốt nhất để thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực này. Đẩy nhanh tiến độ nâng cấp, xây dựng các chợ trên địa bàn thành phố, xây dựng các công trình trung tâm thương mại, có cơ chế ưu đãi và khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng loại hình kinh doanh siêu thị, tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông... đa dạng hóa các thị trường dịch vụ. Kiên quyết xử lý các vi phạm về gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, tích cực chống buôn lậu. Phát triển hệ thống cơ sở lưu trú và công trình dịch vụ du lịch như: nhà hàng, công trình vui chơi giải trí nhằm đa đạng hóa các loại hình và sản phẩm du lịch; Nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển du lịch gắn với các hoạt động lễ hội.

Về sản xuất nông nghiệp: Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn. Sản xuất hàng hóa theo hướng nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu đô thị.

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chương trình, dự án về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp thành phố Vĩnh Yên theo tinh thần Nghị quyết 03 của BCH đảng bộ tỉnh. Hướng sản xuất nông nghiệp vào những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Mở rộng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, khuyến khích đưa cơ giới vào sản xuất; lựa chọn để xây dựng vùng sản xuất hàng hóa. Xây dựng thương hiệu một số nông sản của thành phố. Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi, phòng chống lụt, bão trong mùa mưa bão năm 2011. Làm tốt công tác quản lý Nhà nước, nhất là của chính quyền cơ sở về đất đai, bảo vệ sản xuất và các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp…

Về phát triển đô thị, xây dựng cơ bản, quản lý đô thị: Phát triển đô thị phải gắn chặt với phát triển kinh tế – xã hội, thay đổi cơ cấu lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng tạo ra cảnh quan đô thị sáng, xanh, sạch, đẹp, xây dựng thành phố theo hướng hiện đại – văn minh.

 Đẩy mạnh triển khai thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, hạ tầng kinh tế xã hội, khu dân cư, hạ tầng nông thôn, điểm vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết các khu chức năng đã được phê duyệt. Nâng cao vai trò quản lý nhà nước về quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo hiệu quả, chất lượng công trình, tránh thất thoát. Tăng cường công tác quản lý đất đai, quy hoạch, quản lý đô thị, chú trọng quan tâm đến việc nâng cao ý thức của người dân trong thực hiện văn minh đô thị, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, nhất là các hồ đầm, đảm bảo phát triển đô thị bền vững cả hiện tại và trong lương lai.

Về thu, chi ngân sách:

- Về thu ngân sách: Tập trung quản lý, nuôi dưỡng và khai thác t?t các nguồn thu trên d?a bàn, th?c hi?n thu dúng thu đủ, tạo thêm nhiều dịch vụ mới để mở rộng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thông qua các chương trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố để đảm bảo nguồn thu vững chắc, lâu dài. Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện chặt chẽ công tác thu thuế trên địa bàn; có biện pháp chống thất thu ngân sách, kịp thời thu các khoản thu phát sinh, rà soát, quản lý tốt từng đối tư­ợng chịu thuế

- Về chi ngân sách: Thực hiện điều hành chi ngân sách theo dự toán đ­ược HĐND Thành phố phê duyệt, trên cơ sở nguồn thu cho phép, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả và đúng chế độ chính sách.

Văn hoá- Thông tin- Thể dục, thể thao: Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao. Thực hiện tốt phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng làng, khu phố và gia đình văn hoá. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hoá; Kiểm tra, xử lý các vi phạm, kiên quyết đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Đầu tư xây dựng, nâng cấp các thiết chế văn hoá thể thao theo chương trình phát triển đã được HĐND thành phố có nghị quyết thông qua.

Nâng cao chất lượng nội dung phát thanh, đảm bảo định hướng và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của thành phố và cơ sở. Tập trung phổ biến, tuyên truyền kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước bằng nhiều hình thức phong phú, sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức pháp luật, nếp sống văn minh đô thị.

Giáo dục- đào tạo: Tăng cường công tác giáo dục đào tạo của thành phố, phấn đấu trở thành một trong những đơn vị dẫn đầu, về chất lượng giáo dục đào tạo, xứng tầm là trung tâm Chính trị- kinh tế- Văn hóa xã hội của tỉnh.

Đẩy mạnh đổi mới công tác quản lý giáo dục, tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và chất lượng học sinh giỏi các cấp, ưu tiên hàng đầu cho nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng đội ngũ giáo viên, thực hiện tốt giáo dục chính trị, truyền thống, đạo đức, giáo dục pháp luật trong nhà trường. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, tăng số trường đạt chuẩn quốc gia, giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập Trung học cơ sở. Chú trọng phát triển mạng lưới ngành học mầm non. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của thành phố nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. Mở rộng các nội dung đào tạo nguồn nhân lực nhất là lao động có tay nghề cao để đáp ứng cho các doanh nghiệp trên địa bàn.

Y tế- dân số:  Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, chủ động giám  sát dịch bệnh, xử lý kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất ảnh hưởng của dịch bệnh. Chú trọng công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, nâng cao  chất lượng khám  chữa bệnh  tại các cơ sở y tế . Tăng ­cường công tác quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn nhất là các lĩnh vực hành nghề y dư­ợc tư­ nhân, thị trường thuốc chữa bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác dân số- KHHGĐ  góp phần giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên và nâng cao chất lượng dân số.

Thực hiện chế độ chính sách xã hội: Tập trung nâng cao các hoạt động xã hội, từ thiện, thực hiện tốt các chương trình và giải pháp giảm nghèo. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở mang ngành nghề, đặc biệt là phát triển các loại hình dịch vụ, chuyển đổi ngành nghề cho người lao động. Quan tâm tổ chức tốt các phong trào, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, các ngày kỷ niệm. Thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời, đảm bảo về chế độ đối với các đối tượng chính sách. Giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với thương binh liệt sỹ và người có công. Tích cực, chủ động trong phòng chống các tai tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma tuý, mại dâm. Tiếp tục quan tâm mạnh hơn nữa tới vấn đề bảo vệ quyền lợi cho ng­ười lao động.

Về công tác an ninh - quốc phòng: Tăng cường chỉ đạo, tổ chức thực hiện giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để phát sinh và hình thành các điểm nóng, phức tạp, trên cơ sở mở nhiều đợt tấn công truy quét các loại tội phạm, phòng chống tai nạn giao thông và các tệ nạn xã hội khác. Xây dựng và củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.  Làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục quốc phòng toàn dân. Làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, thi hành án dân sự và công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo giữ vững ổn định trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.

Về công tác xây dựng chính quyền: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ, công chức các phòng, ban, các đơn vị có đủ trình độ, năng lực, có tính chuyên nghiệp cao.

Tổ chức kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp sau bầu cử HĐND. Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Củng cố đội ngũ cán bộ, công chức các phòng, ban, các đơn vị có đủ trình độ, năng lực, đảm bảo tính chuyên nghiệp cao. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, thực hiện có hiệu quả cơ chế “một cửa” hiện đại, phát huy tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, từ đó có biện pháp khen thưởng, kỷ luật kịp thời; Chú trọng bồi dưỡng nâng cao đạo đức, tác phong làm việc cho cán bộ, công chức từ Thành phố tới cơ sở, nhằm nâng cao hiệu quả trong giải quyết công việc; tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

 

TM UBND THÀNH PHỐ
CHỦ TỊCH

(đã ký)

Trần Ngọc Oanh