Vĩnh Yên cùng cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN (1976-2006)

18/05/2012

  1. Vĩnh Yên cùng cả nước đi lên xây dựng CNXH (1976-1986).

            Sau chiến thắng năm 1975, từ 1976-1986, Đảng bộ Thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành 3 kỳ đại hội (từ Đại hội X đến Đại hội XII). Sau hơn 10 năm thực hiện nhiệm vụ mới, Thị xã Vĩnh Yên đã đạt được những thành tựu đáng kể.

            Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: tổng sản lượng năm 1977: 12.103 ngàn đồng, năm 1980 tăng lên 30 triệu đồng.

            Về sản xuất nông nghiệp: sau 10 năm không ngừng tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Thời kỳ 1981-1985, sản xuất lương thực bình quân đạt 4400-4900 kg/ha, sản lượng bình quân hàng năm 3.198 tấn tăng 300 tấn so với 1980, năm sau cao hơn năm trước bình quân 260 tấn. Về lâm nghiệp: từ 1981-1985 trồng được 243 ha/518 ha đất lâm nghiệp.

            Công tác văn hoá xã hội: hằng năm đảm bảo chế độ cho hơn 800 cán bộ, 300 thương binh về nghỉ tại địa phương và 615 gia đình liệt sỹ, giúp đỡ việc ăn, ở, học hành cho 43 con liệt sỹ.

            Công tác giáo dục: từ 1976-1980, kết quả học sinh thi tốt nghiệp cấp II đạt 95%, cấp III đạt 99,5%, lên lớp đạt 94% trở lên. Năm học 1981-1982, trường cấp III Trần Phú đạt 100% tốt nghiệp.

Công tác y tế: động viên nhân dân ăn ở hợp vệ sinh với phong trào “3 sạch” (ăn, ở, uống sạch); thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình, đến hết 1985 tỷ lệ sinh giảm còn 1,8%.

Về quốc phòng an ninh: an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng quốc phòng vững mạnh, thực sự là pháo đài quân sự của chiến tranh nhân dân tại chỗ, sẵn sàng đối phó hiệu quả khi chiến tranh xẩy ra trong tình hình mới.

Xây dựng Đảng: công tác chính trị tư tưởng được quan tâm, tổ chức phát thẻ đảng viên trong toàn Đảng bộ, thường xuyên duy trì công tác kiểm tra và phát triển đảng viên mới. Năm 1982, số chi đảng bộ đạt TSVM có 11 đơn vị; khá: 42; yếu: 3 đơn vị.

Công tác chính quyền: bộ máy chính quyền được sắp xếp, xác định rõ hơn chức năng và nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước ở địa phương.

MTTQ và các tổ chức đoàn thể: phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, thành viên tham gia các hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương và xây dựng đời sống văn hoá mới.

        2. Vĩnh Yên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986-1996).

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, từ 1986-1996, Đảng bộ Thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành 3 kỳ Đại hội (từ Đại hội lần thứ XIII đến Đại hội lần thứ XV). Sau 10 năm đổi mới, Thị xã Vĩnh Yên đã đạt được những kết quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội.

Về sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp: Từ 1991-1995 tổng giá trị sản lượng tăng 12,0%. Thủ công nghiệp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, giá trị sản lượng đạt 41 triệu đồng (1989), tăng 1,2% so với cùng kỳ.

            Thương mại, dịch vụ du lịch: Doanh thu toàn ngành năm 1991: 8,10 tỷ, năm 1995: 25,2 tỷ. Tăng bình quân từ 1991-1995 là 15,6%.

       Về sản xuất nông nghiệp: từ sau khoán 10 có sự chuyển biến tích cực. Năm 1989, tổng diện tích gieo trồng:1974 ha, năng suất: 5474 kg/ha. Tổng sản lượng lương thực: 671,2 tấn.

Về chăn nuôi: năm 1989-1990 đàn trâu có 420 con, đàn bò có 1800 con, đàn lợn 5700 con. Riêng đàn lợn có xu hướng tăng nhanh, đến năm 1995 có 9200 con.

Tổng thu ngân sách: năm 1989 :1,5 tỷ đồng, năm 1991: 2,39 tỷ đồng, năm 1995 : 10 tỷ đồng.

Công tác xây dựng cơ bản và quản lý đô thị: năm 1990 hoàn thành quy hoạch dân cư đến năm 1995 với tổng diện tích là 35,9 ha, xử lý các vụ lấn chiếm đất đai và cấp đất sai thẩm quyền, tập trung xây dựng và nâng cấp một số công trình: làm 10km đường nhựa nội thị, 42 km đường cấp phối, xây dựng 1,5 km cống rãnh…Tính đến năm 1995, 100% xã phường được lắp điện thoại, bình quân 2 máy/100 người.

Các hoạt động văn hoá xã hội được duy trì phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Các chính sách xã hội : từ 1991-1995 đã giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, xoá được 244 hộ đói, giảm được 446 hộ nghèo, số hộ đói nghèo năm 1995 giảm còn 10%.       

Công tác giáo dục: hoàn thành việc xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Chất lượng giáo dục, đào tạo được nâng lên. Năm 1995 có 85-90% giáo viên được chuẩn hoá, số giáo viên giỏi năm 1993 tăng 10% so với năm 1990.  Năm học 1993-1994 có một học sinh giỏi cấp quốc gia về môn toán lớp 9.

Công tác y tế: ngoài việc khám chữa bệnh còn làm tốt công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, tiêm chủng mở rộng và thực hiện KHH-GĐ. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được cả xã hội quan tâm.

Công tác an ninh quốc phòng: tăng cường khả năng chiến đấu, chủ động triển khai các phương án chống “Diễn biến hoà bình” và phòng chống tội phạm.

Công tác quân sự địa phương: xây dựng lực lượng huấn luyện, tuyển quân, thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Hoàn thành tốt đợt triển khai kế hoạch luyện tập khu vực phòng thủ “Vĩnh Yên 93”.

            Xây dựng Đảng: làm tốt công tác tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ đảng viên; sắp xếp lại tổ chức ở các cơ quan đảng và xây dựng các chi, đảng bộ TSVM. Từ 1991-1995, số cơ sở đạt TSVM từ 11 đơn vị (1991) lên 15 đơn vị (1995), kết nạp 207 đảng viên mới. Thường xuyên tiến hành kiểm tra, từ 1991-1995 kiểm tra 12.172 lượt đảng viên trong đó: đảng viên chấp hành tốt chiếm 90,2%; còn có khuyết điểm 7,5% và đảng viên vi phạm 2,18%.

Công tác chính quyền: tổ chức sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, rà soát các văn bản, thủ tục hành chính, cụ thể hoá các Nghị quyết, chính sách của Đảng phù hợp với địa phương. HĐND từ Thị xã đến cơ sở hoạt động ngày càng nề nếp. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu tố kịp thời.

MTTQ và các đoàn thể: Phối hợp giữa các ngành, các địa phương thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội như: xoá đói, giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hoá.

3. Vĩnh Yên tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới và thực hiện CNH-HĐH (1997-2006).

Từ năm 1997- 2006, Đảng bộ Thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành 3 kỳ Đại hội (từ Đại hội lần thứ XVI đến Đại hội lần thứ XVIII) nhằm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới và thực hiện CNH-HĐH.

            Ngày 01/01/1997,  tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, Thị xã Vĩnh Yên trở lại là trung tâm tỉnh lỵ. Lúc đó Thị xã với diện tích tự nhiên gần 3000 ha, hơn 3,2 vạn dân, cơ sở hạ tầng thấp kém, kinh tế nghèo nàn, các lĩnh vực văn hoá xã hội chưa phát triển nhưng với ý chí quyết tâm và hành động cụ thể, thị xã Vĩnh Yên đã đạt được những thành tựu cao, toàn diện.

            Về kinh tế: Năm 2006, tổng giá trị sản xuất đạt 3378,94 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ, tốc độ tăng trưởng tăng 28,2%. Trong đó cơ cấu kinh tế: Năm 1999 thương mại- du lịch 42,2%; công nghiệp 40%; nông nghiệp 17,8%. Năm 2006: công nghiệp xây dựng 57,23%; dịch vụ 40,04%; nông - lâm nghiệp - thuỷ sản còn 2,73%.

Sản xuất công nghiệp: tổng giá trị sản xuất tăng từ 21.860 triệu đồng (1996) lên 55.183 triệu đồng (2000), tốc độ tăng bình quân là 27,7%. Năm 2004 đạt 853,718 tỷ đồng. Năm 2006 đạt 2.141,45 tỷ đồng, tăng 21,3% so với cùng kỳ.

            Quy mô: Năm 2000 có 894 cơ sở sản xuất công nghiệp, đến 2004 có 1076 cơ sở, năm 2006 tăng lên 1.159 cơ sở thu hút 15.648 lao động.

Về thương mại - dịch vụ: Tổng doanh thu: Năm 1996: 32.826 triệu đồng. Năm 2004: 693 tỷ đồng. Năm 2006: 704,2 tỷ đồng.

Về sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: giá trị sản xuất đạt 19.533 triệu đồng (1996), đạt 51.770 triệu đồng (2000), đạt 67,98 tỷ đồng (2006).

Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng từ 1996-2000 đạt 4000 ha, năm 2006: 3590 ha.

Chăn nuôi: năm 2001-2004 đàn lợn 25.000 con, gia cầm 91.000 con. Năm 2006, đàn lợn 24.301 con, đàn  gia cầm đạt 153.945 con.

Sản xuất, kinh doanh phát triển toàn diện tạo điều kiện cho tăng về thu, chi ngân sách. Năm 1996 thu theo phân cấp chỉ đạt 4,1 tỷ đồng, thu trung bình trong 5 năm 2000-2005 đạt 44,13tỷ/năm, tăng 20,3%/năm. Năm 2006, tổng thu đạt 373,893 tỷ đồng, tổng chi thực hiện 61,746 tỷ đồng tăng 4,9% so với cùng kỳ.

Thu nhập bình quân: năm 1996 là 131 USD/người/năm; năm 2000 là 220 USD/người/năm; năm 2006 là 988 USD/người/năm, tăng 7,5 lần so với năm 1996.

Về xây dựng cơ bản: từ 1996-2000, đầu tư cho xây dựng cơ bản: 400 tỷ đồng. Riêng năm 2004: 275,78 tỷ đồng. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2000: 83.900 triệu đồng, năm 2004: 106,935 tỷ đồng, năm 2006: 465,12 tỷ đồng.

Về quy hoạch và quản lý đô thị: hoàn thành quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp, quy hoạch các khu dân cư và tái định cư với tổng diện tích 16,34 ha.  Quản lý đô thị được chỉ đạo chặt chẽ.

Văn hoá xã hội: năm 1996-2000 tạo việc làm cho 3700 lao động, xoá 83 hộ đói, giảm 335 hộ nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 6,3% năm 2000 còn 3,5% năm 2004.

            Công tác giáo dục: năm 1999 đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên. Năm học 2005-2006, xét tốt nghiệp tiểu học 100%, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THCS 99,7%, THPT công lập 99,99%, bán công 99,6%, dân lập 75%.

Công tác y tế: chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân ngày càng hiệu quả, tỷ lệ phát triển dân số giảm từ 1,35% (1996) xuống 1,2% (2000). Năm 2006, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,025 %, giảm 0,005%.

Công tác an ninh quốc phòng: luôn được giữ vững, các cấp, các ngành đã phối hợp chặt chẽ trong việc phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử được nâng lên.

Công tác quân sự địa phương: tổ chức tốt việc huấn luyện dân quân tự vệ trên địa bàn, hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân và giao quân hằng năm.

Xây dựng Đảng: năm 1996 toàn Đảng bộ có 16 cơ sở đạt TSVM, năm 1999 tăng lên 34 cơ sở.Từ 1996-2000 kết nạp được 411 đảng viên mới. Công tác kiểm tra, tổ chức cán bộ được thực hiện tốt.

            Công tác củng cố chính quyền: bộ máy chính quyền từ thị xã đến cơ sở tiếp tục được củng cố. HĐND và UBND từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý, bám sát vào các chủ trương, cụ thể hoá vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Tăng cường cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa”.

MTTQ và các tổ chức đoàn thể: phối hợp chặt chẽ nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá mới ở khu dân cư.

Sau 4 năm thực hiện Đại hội XVII (2000-2004), ngày 15/12/2004, Thị xã Vĩnh yên được công nhận là đô thị loại Ba.

Theo ban tuyên giáo Vĩnh Yên

Các tin đã đưa ngày: