Vĩnh Yên thành phố anh hùng - vững bước vào tương lai (1997-2010)

18/05/2012

Ngày 01/12/2006, Chính Phủ ra Nghị định số 146/2006/NĐ - CP về việc thành lập thành phố Vĩnh Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của Thị xã. Thành phố có 5.080,21 ha diện tích tự nhiên và 122.568 nhân khẩu, có 9 đơn vị hành chính gồm các phường: Ngô Quyền, Liên Bảo, Tích Sơn, Đồng Tâm, Hội Hợp, Khai Quang, Đống Đa và các xã Định Trung, Thanh Trù.

 Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự đoàn kết nhất trí, năng động, sáng tạo từ năm 2007 - 2010 Đảng bộ và nhân dân Thành phố đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị.

 1. Về kinh tế.

          Kinh tế của Thành phố phát triển mạnh, tương đối toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, hầu hết các mục tiêu kinh tế đều đạt và vượt mục tiêu Đại hội XVIII đề ra.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm là 21,89%, tăng 1,89% so với mục tiêu Đại hội XVIII đề ra. Đến hết năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 52,42%; thương mại – dịch vụ chiếm 45,11%; nông – lâm nghiệp – thủy sản chiếm 27,4% (cơ cấu kinh tế do Đại hội XVIII đề ra là: công nghiệp – xây dựng 47%; thương mại – dịch vụ 50%; nông – lâm nghiệp – thuỷ sản 3%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 52,46 triệu đồng, tương đương 2914USD (tăng 2,15 lần so với mục tiêu Đại hội XVIII đề ra).

1.1. Về sản xuất công nghiệp – xây dựng.

Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 20,84% (mục tiêu Đại hội XVIII đề ra là 26,1%). Công nghiệp ngoài quốc doanh tăng bình quân 25,52%; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 24,77%; công nghiệp quốc doanh giảm bình quân 39,19%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng 7,07%/1năm.

Năm 2010 cơ cấu các thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp có sự chuyển dịch lớn: Công nghiệp quốc doanh phần lớn đã chuyển đổi sang cổ phần hoá nên chỉ chiếm tỷ trọng 0,13% (năm 2005 chiếm 4,76%), công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 45,18% (năm 2005 chiếm 42,38%), công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 54,67% (năm 2005 chiếm 52,85%).

Bên cạnh đó Thành phố đã tập trung thực hiện chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, tháo gỡ khó khăn, đã làm tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để đầu tư hạ tầng kỹ thuật; khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư tại các cụm, điểm phát triển kinh tế – xã hội ở Đồng Tâm, Tích Sơn, Hội Hợp, Định Trung. Trên địa bàn Thành phố đã thu hút được 53 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 108 dự án đầu tư trong nước góp phần tăng số các cơ sở sản xuất công nghiệp – xây dựng trên địa bàn là 1.101 cơ sở, thu hút được 22.000 lao động.

1.2. Hoạt động thương mại – dịch vụ.

Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 24,61%, tăng 7,61% so với mục tiêu Đại hội XVIII đề ra. Năm 2010 trên địa bàn Thành phố có 5.332 cơ sở kinh doanh, số hộ có vốn kinh doanh hàng tỷ đồng ngày càng tăng. Các doanh nhân đã đầu tư hàng tỷ đồng để tạo lập các cơ sở phục vụ nhu cầu thương mại, dịch vụ chất lượng cao như: Khách sạn, nhà hàng cao cấp, siêu thị... Các hoạt động dịch vụ có sự quản lý của nhà nước ngày càng được đầu tư và mở rộng, dịch vụ xã hội phát triển nhanh, nhất là dịch vụ vận tải, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ tư vấn... đáp ứng xu thế phát triển ngày càng tăng của đô thị trung tâm tỉnh lỵ.

1.3. Sản xuất nông -  lâm - thuỷ sản.

Mặc dù trong những năm qua sản xuất nông nghiệp gặp nhiều bất lợi vì thời tiết, dịch bệnh, diện tích canh tác thu hẹp, song với sự cố gắng của các cấp, các ngành, đặc biệt là của các hộ nên sản xuất nông nghiệp của Thành phố vẫn duy trì được tốc độ phát triển, tăng bình quân hằng năm 4,41%, tăng 0,21% so với mục tiêu Đại hội XVIII đề ra. Trong đó, ngành trồng trọt tăng bình quân hằng năm đạt 1,9%; ngành chăn nuôi tăng bình quân 9,35%; thuỷ sản tăng bình quân 2,69%. Giá trị sản xuất trên 1ha canh tác tăng từ  32,2 triệu đồng năm 2005 tăng lên 41,94 triệu đồng năm 2010 (tăng 1,94 triệu đồng so với mục tiêu Đại hội XVIII đề ra)

1.4. Về thu, chi ngân sách trên địa bàn.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn Thành phố hằng năm đạt khá cao, từ 110 tỷ đồng năm 2005 đến năm 2010 đạt 909 tỷ đồng, nhịp độ tăng bình quân hằng năm đạt 52,5% (mục tiêu Đại hội XVIII đề ra tăng bình quân từ 28% đến 30%).

Tổng chi ngân sách tăng từ 63,9 tỷ đồng năm 2005 tăng lên 353,2 tỷ đồng năm 2010, nhịp độ tăng bình quân hằng năm đạt 40,7% (mục tiêu Đại hội XVIII đề ra tăng bình quân 26 – 28%).

1.5. Công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển và quản lý đô thị.

Thành phố đã thực hiện nghiêm túc quy hoạch chung đã được UBND Tỉnh phê duyệt điều chỉnh, từng bước hoàn thành quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết theo từng giai đoạn cho các xã, phường, các khu dân cư, công sở, hệ thống giao thông, công trình công cộng.

Các công trình giáo dục, y tế, nhà văn hoá, công trình công cộng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao hơn. Đến hết năm 2010 sẽ có 100% các trạm y tế, các trường phổ thông được xây dựng kiên cố, 70% khu dân cư xây dựng được nhà văn hoá.

Công tác tuyên truyền nâng cao, ý thức của người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị được nâng lên.

2. Về văn hoá - xã hội.

2.1. Công tác giáo dục - đào tạo.

Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về GD - ĐT ngày càng được nâng cao. Giáo dục tiếp tục được phát triển trên cả 3 mặt: qui mô, chất lượng và cơ sở vật chất.

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp PTTH thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng chiếm tỷ lệ cao trong toàn Tỉnh (54,4%). Trình độ dân trí nâng lên, lao động được qua đào tạo chiếm 49% (mục tiêu Đại hội XVIII đề ra chiếm 40 – 45%). Thành phố đã tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai các Đề án về phát triển giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu học và THCS.

Đến năm 2010, trình độ giáo viên đạt chuẩn chiếm 98,33%, trên chuẩn là 58,92%. Đã có 21/40 trường (từ mầm non đến THPT) đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 52,5%; trong đó có 1 trường THPT được phong danh hiệu anh hùng thời kỳ đổi mới.

2.2. Khoa học – Công nghệ

Thành phố đã thành lập Hội đồng khoa học để triển khai, phối hợp với các ngành ở Tỉnh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào tất cả các lĩnh vực từ nghiên cứu đến sản xuất kinh doanh, các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý trong doanh nghiệp, các hoạt động y tế, giáo dục, đã góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản lý điều hành. Thực hiện chuẩn hoá ISO 9001 – 2000 trong công tác quản lý nhà nước và hoạt động điều hành của Thành phố trong lộ trình cải cách hành chính hiện nay.

2.3. Các hoạt động văn hoá - thông tin - thể thao.

Hằng năm tỷ lệ gia đình, cơ quan, đơn vị đăng ký thực hiện; hằng năm tỷ lệ gia đình văn hoá đều đạt 83 – 90% (mục tiêu Đại hội XVIII là trên 90%).

Công tác thông tin, tuyên truyền được tăng cường, hệ thống phát thanh từ Thành phố tới các xã, phường được đầu tư mới hiện đại, kịp thời thông tin các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Công tác quản lý nhà nước về văn hoá và dịch vụ văn hoá được tăng cường, kịp thời ngăn chặn và xử lý các hiện tượng tiêu cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo đúng quy định.

2.4. Giải quyết lao động, việc làm và giảm nghèo.

Từ 2005 - 2010 Thành phố đã tạo điều kiện và giải quyết việc làm trên 12.260 lao động (bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 2.450 lao động, mục tiêu Đại hội XVIII là 2.000 lao động/năm).

Thành phố không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo còn 2,16% (giảm 4,04% so với năm 2005, mục tiêu Đại hội XVIII đề ra là mỗi năm giảm 1%). Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với nước được đảm bảo kịp thời, đúng chế độ.

2.5. Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em.

Hệ thống y tế trên địa bàn Thành phố được phát triển rộng, đầu tư khá đồng bộ về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ y tế, bác sĩ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, phòng chống dịch cho nhân dân.

Hiện nay, có 7/9 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt 77,7% (mục tiêu Đại hội XVIII đề ra là 100%); tỷ lệ 10 bác sĩ/ 1 vạn dân tăng trên 5 bác sĩ so với năm 2005.

Các hoạt động chăm sóc và bảo vệ các quyền về bà mẹ và trẻ em được quan tâm hơn, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn 14,8%, giảm 3,7% so với năm 2005, hoàn thành mục tiêu Đại hội XVIII đề ra.

3.Về quốc phòng - an ninh.

Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định, không để xảy ra các điểm nóng phải giải quyết, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố.

Công tác quốc phòng luôn được coi trọng. Công tác tuyển quân hằng năm hoàn thành và vượt chỉ tiêu trên giao. Đặc biệt là lãnh đạo và tổ chức thành công cuộc diễn tập khu vực phòng thủ Thành phố năm 2009 làm điểm cho toàn quân, toàn quốc tham quan được Bộ Quốc phòng, Quân khu II và Tỉnh đánh giá là xuất sắc. Quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh cả về chính trị và khả năng tác chiến phòng thủ, thực hiện tốt nhiệm vụ củng cố vững chắc quốc phòng trên địa bàn.

Tỷ lệ phá án hằng năm đạt trên 80%. Trật tự an toàn giao thông trên địa bàn từng bước có nhiều chuyển biến tiến bộ, tai nạn giao thông được kiềm chế, bước đầu đạt được một số kết quả về thực hiện mục tiêu 3 giảm (giảm về số vụ, giảm số người chết và giảm số người bị thương)

Trong những năm qua Thành phố đã nhận được 752 đơn đề nghị, khiếu nại, tố cáo, trong đó số đơn giải quyết theo thẩm quyền 429 đơn, đã giải quyết được 100% đơn (Đơn trùng lặp, không thuộc thẩm quyền đã xử lý hướng dẫn theo quy định của pháp luật là 323 đơn).

4. Về xây dựng hệ thống chính trị.

4.1. Công tác xây dựng và củng cố chính quyền.

Bộ máy chính quyền từ Thành phố đến cơ sở được củng cố, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Tích cực thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa”.

Thường xuyên quan tâm kiện toàn, sắp xếp bộ máy, xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh (Trong nhiệm kỳ qua đã có 15 lượt xã, phường được UBND tỉnh công nhận là chính quyền trong sạch, vững mạnh). Triển khai thực hiện nghiêm túc, đúng quy định chủ trương thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân ở 7/7 phường; thí điểm mô hình Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND phường tại 2 phường bước đầu có hiệu quả.

4.2. Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể.

MTTQ và các đoàn thể được củng cố, có nhiều đổi mới, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

            MTTQ tăng cường củng cố, xây dựng phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể vững mạnh. Phối hợp với chính quyền, các tổ chức thành viên phát động và triển khai có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước qua các cuộc vận động như “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xây dựng nhà Đại đoàn kết”. “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”...

            Các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội có sự phối hợp chặt chẽ, động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết, thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

4.3. Công tác xây dựng Đảng.

Đảng bộ đã đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng đoàn kết trong Đảng và trong hệ thống chính trị. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức và khả năng vận dụng vào thực tiễn trong tình hình mới. Thường xuyên củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên.

* Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương được các cấp uỷ Đảng tổ chức, quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, đúng thời gian.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, gắn lý luận với thực tiễn. Trong nhiệm kỳ qua, đã tổ chức được 124 lớp bồi dưỡng cho 10.785 lượt cán bộ, đảng viên của Đảng bộ.

Tích cực chỉ đạo triển khai nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị 06-CT/TW ngày 1/11/2006 của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với nhiều hoạt động phong phú, chỉ đạo hành động “làm theo” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 3(khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng.

* Về công tác tổ chức và cán bộ: có nhiều chuyển biến tích cực và toàn diện. Trọng tâm là xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh; xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng; phát huy vai trò lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Trong nhiệm kỳ qua đã cử 167 cán bộ đi học đại học chuyên môn và lý luận chính trị. Tỷ lệ chi, đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh tăng từ 83,7% năm 2005 lên 85,6% năm 2009 (bình quân 5 năm đạt 84,9%), không có chi, đảng bộ cơ sở yếu kém. Tỷ lệ đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng từ 84% năm 2005 lên 92,5% năm 2009; đảng viên vi phạm tư cách giảm từ 0,5% năm 2005 xuống còn 0,3%. Kết nạp được 877 đảng viên, trong đó đảng viên trẻ chiếm 61,5%, là nữ chiếm 45,4%. Bình quân mỗi năm kết nạp được 174 đảng viên, đạt mục tiêu Đại hội đề ra.

* Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật: Trong nhiệm kỳ qua, đã tổ chức được 44 cuộc kiểm tra, 5 cuộc giám sát; các cuộc kiểm tra, giám sát được thực hiện theo đúng quy trình và các kết luận kiểm tra được các chi, đảng bộ cơ sở thực hiện nghiêm túc.

Thông qua công tác kiểm tra dấu hiệu vi phạm và giải quyết đơn thư tố cáo cấp uỷ và UBKT các cấp đã xử lý kỷ luật 35 đảng viên, với các hình thức từ khiển trách đến khai trừ ra khỏi Đảng.

* Công tác dân vận: Ngày càng đổi mới theo hướng gần dân, sát cơ sở. Đảng bộ luôn chú trọng việc sơ, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác vận động quần chúng, tích cực thực hiện “Quy chế dân chủ ở cơ sở”. Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận chính quyền, công tác dân vận trong lực lượng vũ trang, từ đó làm chuyển biến nhận thức trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

5. Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020.

5.1. Mục tiêu cụ thể đến năm 2015.

- Tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 17,2%, trong đó: Ngành dịch vụ đạt 22,3%; Ngành công nghiệp – xây dựng đạt 12,8%; Ngành nông – lâm nghiệp – thuỷ sản đạt 4,2%.

- Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ đạt 53,9%; công nghiệp – xây dựng đạt 44,9%; nông – lâm nghiệp – thuỷ sản đạt 1,2%.

- Thu nhập bình quân đầu người là 4.350USD gấp 1,49 lần so với hiện nay.

- Nhịp độ tăng bình quân thu chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn từ 18 – 20%.

- Hằng năm giải quyết việc làm mới cho 1.200 lao động. Lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt 60%.

- Duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1%/năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 2%.

- 100% trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia.

- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn dưới 10%.

- Tỷ lệ gia đình văn hoá 95%.

- Làng, khu phố đạt chuẩn văn hoá 85%.

- Tỷ lệ cơ quan đạt văn hoá là 100%.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia: Mầm non 76%; Tiểu học 63% (mức độ II); THCS 88%; THPT 80%. Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

- Tỷ lệ hộ dân được dùng nước sạch đạt trên 95%.

- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 85% và được xử lý 100% bằng phương pháp chôn lấp. Thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt đạt 100%.

- Tỷ lệ chính quyền cơ sở đạt danh hiệu vững mạnh bình quân hàng năm trên 75%.

- Số đảng viên kết nạp bình quân hàng năm 150 đảng viên.

- Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 90%.

- Tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh bình quân hàng năm trên 85%.

5.2. Định hướng đến năm 2020.

- Tăng trưởng kinh tế hằng năm giai đoạn 2016 – 2020 đạt 13,1%.

- Giá trị gia tăng bình quân đầu nguời đạt khoảng 7000 – 7500 USD, gấp 2,3 lần so với bình quân chung của cả nước.

- Cơ cấu kinh tế đến năm 2020:

            + Dịch vụ 55,8%

            + Công nghiệp – xây dựng 43,4%

            + Nông – lâm nghiệp – thuỷ sản 0,8%

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 75 – 80%.

- Cơ cấu lao động công nghiệp – xây dựng 39%; dịch vụ 47%; nông – lâm nghiệp – thuỷ sản 14%.

- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 90 – 95% phạm vi đất xây dựng đô thị, trong đó được xử lý đạt 85% qua đốt và tái chế; 15% xử lý chôn lấp.

- Tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch: 100%.

Theo ban tuyên giáo Vĩnh Yên

Các tin đã đưa ngày: