Truyền thống yêu nước của nhân dân Vĩnh Yên trước khi có Đảng lãnh đạo

16/08/2017

Nhân dân Vĩnh Yên cũng như nhân dân các địa phương khác trên đất nước Việt Nam sớm có lòng yêu quê hương đất nước. Trải qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, tình cảm đó được kế thừa và phát triển, trở thành truyền thống được, thể hiện đậm nét trong việc thờ cúng, tôn vinh những người có công với nước ở các đình, chùa… hay được thể hiện qua các lễ hội và các sinh hoạt văn hóa cổ truyền.

Ngay từ buổi đầu dựng nước của các vua Hùng, người dân Vĩnh Yên đã tích cực tham gia chiến đấu bảo vệ bờ cõi của quốc gia Văn Lang. Dấu tích còn để lại cho đến ngày nay theo truyền thuyết là thần tích ở đền Đậu (xã Định Trung) có ghi: Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu đã có lần đánh giặc ở vùng này, làng Định Trung được vinh dự đóng góp 50 dân binh, góp phần vào việc đánh giặc Ân. Ở đình Đôn Hậu (Khai Quang) thờ một dũng tướng đời Hùng Vương 18 là Quí Minh đã có công đánh giặc Thục.

Vào đầu thế kỉ thứ nhất ở làng Vị Thanh (xã Thanh Trù) có một tướng dẫn đầu một đạo quân đi theo Hai Bà Trưng đánh Tô Định. Khi Mã Viện trở lại xâm lược, nữ tướng này đã chống trả quyết liệt và tử trận ở vùng Đầm Vạc. Nhân dân thương tiếc và lập đền thờ. Các triều đại sau đã có sắc phong là Trịnh Uyển công chúa.

Tại phường Tích Sơn, trước đây có một ngôi đình lớn, được xây dựng đầu thế kỷ XIX, kiến trúc bề thế, uy nghiêm trên một thế đất đẹp, gọi là Đình Cả (do chiến tranh tàn phá nên Đình Cả nay không còn nữa, chỉ còn lại vết tích). Đình Cả là nơi thờ 7 anh em họ Lỗ ở vùng Vĩnh Yên, đã có nhiều công lao giúp nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên ở thế kỷ XIII. Khi ấy quân Mông Nguyên xâm lược Đại Việt, nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân 3 lần kháng chiến (năm 1258, 1285, 1288). Hưởng ứng lời hịch của vua Trần, 7 anh em họ Lỗ là: Lỗ Văn Cường, Lỗ Văn Dũng, Lỗ Văn Đài, Lỗ Văn Dực, Lỗ Văn Vũ, Lỗ Văn Mẫu và Lỗ Thị Bẩy, đã chiêu mộ binh sỹ cầm quân đánh giặc. Theo thần tích Đình Cả, 7 anh em họ Lỗ đã đưa nghĩa quân về đóng căn cứ ở Sơn Cao (khu đồi cao ngày nay), Đình Sơn (núi Đanh), Lộng Sơn (núi Chống, Khai Quang). Từ đây, nghĩa quân đã tỏa ra các hướng đánh cho quân xâm lược nhiều trận  thất bại nặng nề, tiêu biểu trên đất Vĩnh Phúc thời đó diễn ra trận Bình Lệ Nguyên rất oanh liệt, nghĩa quân làm chủ suốt một dải đất bờ trái sông Lô, sau đó là bờ trái sông Hồng, từ Bạch Hạc xuôi đến Chèm (Hà Nội). Tháng 4/1288, quân dân nhà Trần đại thắng. Vua Trần Nhân Tông đã phong tặng 7 vị danh hiệu “Tả hà nhất đái, thất vị đại vương” (nghĩa là 7 vị đại vương ở dải đất tả ngạn sông Hồng). Rất nhiều làng suốt bờ trái sông Lô, sông Hồng đến ngoại thành Hà Nội đều có lập đền thờ thất vị Lỗ Đình Sơn. Khu vực Vĩnh Yên có 13 nơi thờ thất vị Đại vương. Hàng năm vào ngày mùng 5 tháng Giêng, các làng đều tổ chức lễ hội để tỏ lòng biết ơn công lao anh em họ Lỗ. Trong đó, tiêu biểu nhất là lễ hội Đình Cả của phường Tích Sơn (đây là lễ hội được bảo tồn văn hóa  phi vật thể quốc gia).

Thế kỷ XVIII, phía Bắc có cuộc khởi nghĩa của Dương Hùng lấy thung lũng Tam Đảo là trung tâm căn cứ. Phía Nam là nơi tụ nghĩa cho cuộc nổi dậy của nghĩa quân nông dân do Nguyễn Danh  Phương làm thủ lĩnh chống lại triều đại phong kiến Lê Trịnh thối nát. Truyền rằng: Để tập hợp lực lượng nhanh chóng và gây thanh thế, Nguyễn Danh Phương đã huy động lực lượng chỉ trong một đêm là xây dựng xong 3 gian nhà có bàn thờ hương khói uy nghi làm nơi chiêu mộ binh sỹ. Ba gian nhà được xây nhanh như vậy là do trời phật giúp đỡ, những người theo Nguyễn Danh Phương là hợp ý trời, do đó mà chỉ trong thời gian ngắn ông đã tập hợp được một lực lượng đông đảo những người nông dân cùng mình hợp nghĩa. Để ghi nhớ công lao của ông, nhân dân đã giữ gìn, tôn tạo ba gian nhà và gọi là Quán Tiên ở phường Hội Hợp ngày nay.

Hết chống kẻ thù phong kiến phương Bắc, khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Vĩnh Yên lại cùng với nhân dân cả nước vùng lên đánh Pháp cứu nước, gìn giữ quê hương.

Từ năm 1885 đến năm 1893, hưởng ứng phong trào Cần Vương, các thổ hào ở địa phương gồm các ông Đề, ông Đốc (Đốc Khoát, Đốc Giảng, Đốc Huỳnh…) đã dấy binh nổi lên chống Pháp khắp các huyện, thị. Nhiều trận đánh tập kích vào các đồn, vào các huyện lỵ và thị xã của nghĩa binh, đã gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất, buộc chúng liên tiếp phải mở các cuộc hành quân chống lại. Vùng rừng núi Tam Đảo từ năm 1885 trở đi đã trở thành căn cứ kháng chiến của nhiều nghĩa quân trong đó có nhân dân Vĩnh Yên tiếp tục chống Pháp xâm lược.

Phong trào Cần Vương bị dập tắt, Vĩnh Yên và các vùng lân cận lại nổi lên các hoạt động chống thực dân Pháp của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Nhân dân ở núi Tam Đảo hết lòng giúp đỡ nghĩa quân Đề Thám, nên nghĩa quân đã cầm cự được một thời gian dài với quân Pháp, cho đến khi Đề Thám mất. Cùng thời gian này (cuối thế kỷ XIX) đồng bào Dao sống quanh Tam Đảo đã nổi dậy chống Pháp, lấy vùng núi Tam Đảo (vùng Ma Ao Dứa) làm căn cứ từ đó tỏa đi đánh quân Pháp.

Năm 1917-1918 nổ ra cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên do Đội Cấn chỉ huy. Quân Pháp phải đem quân từ Hà Nội lên bao vây, tấn công chiếm lại, nghĩa quân rút về vùng núi Tam Đảo. Một lần nữa, nhân dân nơi đây lại ủng hộ nghĩa quân Đội Cấn chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, do lực lượng mỏng, giặc Pháp tập trung đàn áp, nên cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức, Đội Cấn bị thương và hy sinh, nghĩa quân còn lại tan rã.

Năm 1927, Việt Nam quốc dân Đảng, một số tổ chức yêu nước có xu hướng quốc gia tư sản do tiểu tư sản trí thức lãnh đạo, được thành lập tại Hà Nội. Các yếu nhân của Quốc dân đảng như: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính đã về Vĩnh Yên và một số nơi khác gây cơ sở và hoạt động. Vì vậy, ở Vĩnh Yên và Vĩnh Tường có chi bộ Quốc dân đảng khá sớm. Những hoạt động này có tác động mạnh mẽ trong nhiều tầng lớp nhân dân đang sinh sống tại thành phố Vĩnh Yên. Nó khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quyết tâm giành độc lập tự do cho dân tộc, làm tiền đề cho những hoạt động cách mạng sau này ở Vĩnh Yên.

 

Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thành phố

Các tin đã đưa ngày: