Vĩnh Yên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (8/1949-7/1954)

18/08/2017

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc đã bước sang năm thứ 4. Ở tỉnh Vĩnh Yên, cuộc kháng chiến chính thức bắt đầu từ ngày 18/8/1949 khi thực dân Pháp tập trung 3.000 quân mở chiến dịch Canigu đánh chiếm Phúc Yên, Vĩnh Yên.

- Mũi thứ nhất, địch sử dụng tiều đoàn 27 có cơ giới, pháo binh từ Phù Lỗ tiến theo quốc lộ 2 đánh chiếm thị xã Phúc Yên, Hương Canh, tiến lên Vĩnh Yên.

- Mũi thứ hai, địch dùng tiểu đoàn 29 từ Hạc Sơn (Sơn Tây) vượt sông Hồng vào Cao Đại, theo quốc lộ 2 tiến vào Vĩnh Yên.

- Mũi thứ ba, địch dùng tiểu đoàn ngụy cơ động tập trung tại thị xã Sơn Tây có cơ giới, pháo binh vượt sông Hồng vào Quảng Cư, Nam Vĩnh Tường, Yên Lạc rồi tiến vào thị xã Vĩnh Yên, sau đó nối liền Yên Lạc với vị trí chiến lược Việt Trì.

- Mũi thứ tư, địch dùng 2 tiểu đoàn dù số 3 và số 5 nhảy dù xuống Tĩnh Luyện, Đại Đình huyện Tam Dương nhằm đánh úp các đơn vị bộ đội chủ lực của ta (tiểu đoàn 369 thuộc trung đoàn Sông Lô cùng trung đoàn bộ đang đóng tại Thanh Vân, Đạo Tú) và chặn đường rút của các cơ quan tỉnh.

Với thế trận đó, thị xã Vĩnh Yên đã bị địch bao vây. Trên đường càn quét, địch đã bắn giết, đốt phá nhà cửa, tàn phá ruộng đồng, bắt người… rất dã man, gây thiệt hại lớn về người và của. Do ưu thế về quân sự, quân Pháp đã nhanh chóng chiếm được các vị trí then chốt, gây cho ta nhiều khó khăn. Nhưng nhờ có sự chuẩn bị sẵn sàng từ trước, mọi công việc đã được thực hiện theo đúng kế hoạch. Cơ quan lãnh đạo của tỉnh cùng các phương tiện làm việc đã chuyển ra khu căn cứ an toàn. Các xã đã chuyển mọi hoạt động vào bí mật để lãnh đạo nhân dân, du kích thực hiện đấu tranh đánh địch trên mặt trận chính trị, kinh tế, vũ trang.

 Như vậy, từ ngày 18/8/1949 thực dân Pháp đã chiếm thị xã. Các xã (trừ Tam Đảo) đã ở trong vùng kiểm soát của địch (vùng tề). Trong suốt thời gian địch chiếm đóng, mọi hoạt động của ta gặp rất nhiều khó khăn. Vì đây là trung tâm chỉ huy chiến tranh của địch, do đó chúng đã tập trung cao về lực lượng quân sự và các thủ đoạn thâm độc về kinh tế, chính trị để ngăn chặn và tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta.

Về quân sự, từ tháng 8/1949 đến tháng 6/1951 thực dân Pháp đã xây dựng một loạt đồn bốt với lô cốt kiên cố ở trong nội thành và các xã như bốt Quận, bốt Bầu, bốt Hán Lữ, Cầu Oai, Hợp Thịnh. Lực lượng được bố trí như sau:

- Tại núi Bầu xã Hạnh Phúc có 4 trung đội (1 trung đội lính Pháp, 3 trung đội ngụy).

- Vị trí gò Ga (nội thành) có 474 tên, hầu hết là lính Âu Phi có 42 ngụy binh.

- Vị trí gò Gẩu (nội thành) có 196 tên.

- Vị trí Mậu Thông (xã Hạnh Phúc) có 800 tên.

Các vị trí của địch đều bố trí xem kẽ giữa lực lượng quân Pháp và quân ngụy với lực lượng cơ động. Theo quy định của địch, về quân sự lúc đầu thị xã là một phân khu của quân khu Phúc Yên. Đến tháng 6/1951 là một phân khu thuộc chỉ huy sở miền Bắc Việt Nam. Về hành chính thuộc quận hành chính Tam Dương. Thị xã lúc đó gồm 2 thôn: Hoa Lư (phố Vĩnh Thịnh, Vĩnh Thành, xóm Khâu, Tiếc, Hạ); Đống Đa (Gẩu, Sậu, Chiền).

Quân địch thường xuyên mở những trận càn quét ra vùng tự do, đồng thời điên cuồng khủng bố bắt giữ, tra tấn và giết hại cán bộ, đảng viên, du kích nằm vùng hoạt động bí mật.

Về chính trị, từ tháng 8/1949 thực dân Pháp đã ra sức thực hiện chính sách bình định ở các vùng chúng chiếm giữ, lập ra các ban tề hoạt động ở các thôn xóm. Tổ chức ra bộ máy ngụy quyền cho đến xã, thôn; đồng thời thành lập hệ thống bảo an, hương dũng bảo vệ bộ máy ngụy quyền và dựa vào ngụy quyền để duy trì phát triển ngụy quân. Chúng thiết lập bộ máy cai trị ở thành phố gồm: Quận hành chính, quận công an, ty địa chính, ty công chính… lập các bốt, các tháp canh. Cùng với việc thiết lập bộ máy chiến tranh, thực dân Pháp còn lợi dụng đồng bào công giáo lôi kéo họ tham gia vào các tổ chức phản động, không ủng hộ kháng chiến, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ gây nên chia rẽ, mất đoàn kết trong nhân dân. Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn thành lập các tổ chức phản động trong thanh, thiếu niên, trí thức, tiểu tư sản và bày trò bầu cử giả hiệu để mỵ dân.

Về kinh tế, chúng thiết lập đồn bốt không cho nhân dân sản xuất, giao lưu hàng hóa, tổ chức các cuộc càn quét đốt phá, cướp bóc phá hoại tài sản, hoa màu, gia súc, gia cầm. Cùng với bọn địa chủ ra sức bóc lột bằng cách đặt ra thêm nhiều thứ thuế…

Với lực lượng và thủ đoạn như vậy nên trong giai đoạn đầu địch đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Mặt khác, cũng do khó khăn khách quan, nên ta cũng mắc khuyết điểm ngại khó, ngại khổ, báo cáo tình hình chung năm 1949 của Huyện ủy Tam Dương, phần về thị xã đã nhận xét:

Đảng: “Các chi bộ ỷ vào mất đất, chỉ hướng vào một số việc theo dõi địch, coi nhẹ hẳn việc củng cố chi bộ nên nói chung đã có số đồng chí như quên mất trách nhiệm, hoang mang tinh thần, công tác thì rất ít kết quả”.

Chính quyền: “Các Ủy ban kháng chiến hành chính không tổ chức được sinh hoạt và hầu như không thực hiện chức năng chính quyền mặc dù điều kiện cũng có thể làm được”.

Dân vận: “Không chú ý củng cố các tổ chức quần chúng, vì vậy rất nhiều nơi không nắm được quần chúng các cơ sở kháng chiến hoặc bị phá, hoặc chạy ra vùng tự do”… Nhìn chung, tình hình trên địa bàn thị xã lúc đó gặp khó khăn rất lớn và kéo dài trong nhiều năm.

Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy Tam Dương đã xác định đây là địa bàn trọng yếu phải kiên quyết giữ vững. Do vậy, ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Vĩnh Yên cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến, Vĩnh Yên thường xuyên có đảng viên bám đất, bám dân hoạt động. Đặc biệt là ở nội thị, một chi bộ và một đơn vị du kích đã kiên cường dũng cảm ở lại nội bám đất, bám dân nắm tình hình địch, phối hợp với bộ đội chủ lực đánh được nhiều trận; đồng thời tổ chức tuyên truyền giáo dục nhân dân về đường lối kháng chiến của Đảng, chính sách của Chính phủ; đấu tranh chống lại những âm mưu thủ đoạn về chính trị, kinh tế của thực dân Pháp. Ở xã Hạnh Phúc cũng thường xuyên có đảng viên và tiểu đội du kích bám dân nắm tình hình địch và sau này tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực đánh một số trận phục kích nổi tiếng.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Vĩnh Yên tuy là một mặt trận đánh địch có tính chất thầm lặng nhưng vô cùng khó khăn, gian khổ, phức tạp đòi hỏi phải có tinh thần trung kiên, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Khi quân Pháp vào đất Vĩnh Yên, mặc dù thế lực ban đầu ta còn yếu nhưng các chi bộ cũng tổ chức một số hoạt động cản trở bước tiến của địch như đào hố chông, thực hiện vườn không nhà trống. Táo bạo hơn là tháng 9/1949, du kích đã đánh một số trận. Ở nội thành, du kích đặt một quả mìn tại Ao Đền và một quả ở quốc lộ 2 (khu vực Hồ của cụ Quyết Tiến) để phục kích quân Pháp đi càn quét, làm cho một số tên địch chết và bị thương. Tiếp đó, chi bộ xã Đồng Tâm đã chỉ đạo anh em du kích đặt mìn ở đầu cầu Oai chặn đường càn quét của địch ra vùng tự do. Ở Hợp Thịnh du kích đã đánh mìn ở ngã ba đường đi Sơn Tây, đánh cần bật, đánh chông, diệt và làm bị thương một số tên, bắt tên Quốc dân đảng đầu sỏ ở Hốp Lẻ. Những trận đánh trên tuy không gây tổn thất nhiều cho quân Pháp nhưng cũng là những đòn cảnh cáo cho kẻ thù biết tinh thần, quyết tâm và lòng dũng cảm chiến đấu của quân và dân xã Vĩnh Yên.

Từ cuối năm 1949, thực dân Pháp tăng cường xây dựng, củng cố bộ máy cai trị của chúng. Đẩy mạnh việc diệt phá ta về kinh tế, đồng thời ra sức đánh phá cơ sở kháng chiến của ta trong vùng tạm chiếm và mở nhiều cuộc càn quét ra vùng tự do nhằm thực hiện cho được chính sách bình định. Nghiêm trọng hơn là địch đã đặt trọng tâm do thám của khu tác chiến Bắc Việt tại thị xã Vĩnh Yên để chỉ huy các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên và nhiều xã của huyện Tam Dương. Vùng tự do chỉ còn huyện Lập Thạch và một số xã phía Bắc của huyện Tam Dương.

Hoạt động của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Một số đảng viên, cán bộ chính quyền sợ hy sinh, thoái thác nhiệm vụ. Một số cơ sở Đảng, tình hình trở nên nghiêm trọng như chi bộ xã Hạnh Phúc, do kết nạp đảng viên ồ ạt không đúng tiêu chuẩn, sai nguyên tắc lại không giáo dục rèn luyện thường xuyên, vì thế khi địch khủng bố ác liệt, đã có nhiều đảng viên bỏ nhiệm vụ, cam tâm làm tay sai cho địch…

Để tạo nên một địa bàn rộng lớn và có những căn cứ kháng chiến quan trọng, vững chắc cho cả vùng nhằm chống lại âm mưu của kẻ thù, đồng thời căn cứ vào vị trí địa lý, dân cư, tập quán… của 2 tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, ngày 13/1/1950 liên khu ủy Việt Bắc đã họp bàn để hợp nhất 2 tỉnh và được Trung ương đồng ý. Cuối tháng Giêng năm 1950, BCH 2 Đảng bộ đã họp hội nghị ở xã Tam Đảo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên để bàn cụ thể sự hợp nhất 2 tỉnh. Ngày 12/2/1950, Chính phủ ra Nghị định số 03/TTg về việc sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc và hội nghị hợp nhất 2 tỉnh được tiên hành tại thôn Sơn Kịch, xã Hợp Lý (nay là xã Quang Sơn) huyện Lập Thạch. Việc sáp nhập 2 tỉnh là do yêu cầu khách quan, đã tạo nên sức mạnh mới cho cuộc kháng chiến, đồng thời cũng là sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân 2 tỉnh.

Từ năm 1950 trở đi, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc và Huyện ủy Tam Dương, Vĩnh Yên đã tích cực củng cố lực lượng. Từ ngày 10/7/1950 đến hết năm 1950, các xã của Vĩnh Yên đều thực hiện nghị quyết của tỉnh về “Chấn chỉnh chi bộ xã”. Được Huyện ủy Tam Dương tăng cường cán bộ về các xã, chi bộ các xã đã tổ chức đợt sinh hoạt kiểm điểm nghiêm túc từ chi ủy đến đảng viên, kiên quyết đề nghị kỷ luật và khai trừ khỏi Đảng những đảng viên sa sút ý chí chiến đấu, thoái thác trách nhiệm, làm tay sai cho địch, đồng thời củng cố lại tổ chức, phân công những đảng viên trung kiên tiếp tục bám đất, bám dân đẩy mạnh hoạt động kháng chiến. Riêng chi bộ xã Hạnh Phúc do tình hình rất nghiêm trọng, tháng 7/1950 Huyện ủy Tam Dương đã quyết định giải tán chi bộ và thành lập một chi bộ mới gồm 8 đảng viên trung kiên.

Sau khi củng cố, chất lượng lãnh đạo của các chi bộ và đảng viên được nâng lên, vai trò của Đảng được khẳng định trong nhân dân. Đầu năm 1950, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy mở chiến dịch tổng phá tề, được lực lượng của tỉnh và huyện hỗ trợ, các xã Vĩnh Yên, Hạnh Phúc, Đồng Tâm, đảng viên và du kích được nhân dân ủng hộ đã cùng bộ đội tiến đánh vào các căn cứ của địch.

Ở xã Vĩnh Yên, dưới sự chỉ huy của đồng chí Tình và đồng chí Thư Thuần, du kích đã bắt tay Lý Biết, thu một số súng và tuyên truyền trong nhân dân tham gia ủng hộ kháng chiến, không để con em đi lính cho Pháp. Ở Đồng Tâm, du kích đã bắt những tên địa chủ phản động như Ba Chuẩn, Lý Cự, tên Vải, tên Mòn. Tháng 2/1950, du kích xã đã đặt bom phá sập một góc bốt cầu Oai, sau đó phối hợp với bộ đội 468 đánh bốt tề ở xóm Hóc, bọn tề ở đây phải bỏ chạy. Ở Hạnh Phúc và Định Trung, du kích cũng cảnh báo những tên tay sai. Trong chiến dịch này, ta đã gây dựng được một số cơ sở kháng chiến. Những tên tay sai phản động phải hoảng sợ đã bớt hung hăng, phá phách trong nhân dân.

Để chống lại âm mưu bắt thanh niên đi lính, Huyện ủy đã chỉ đạo các xã tích cực chủ động, bằng nhiều biện pháp tổ chức cho thanh niên chốn lính và tham gia kháng chiến. Chi bộ và du kích các xã đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội huyện tổ chức các cuộc quấy rối các bốt, cảnh cáo tề, bắn súng vào các tháp canh. Cùng lúc đó, nhân dân đánh chiêng trống, thanh la, để áp đảo quân địch. Lợi dụng lúc đó, ta tổ chức cho thanh niên chốn ra vùng tự do. Bằng nhiều cách, Vĩnh Yên đã tổ chức cho hàng trăm thanh niên ra vùng tự do. Số thanh niên này đã được học tập, giáo dục và đưa vào bộ đội hoặc trở thành du kích quân báo tiếp tục trở lại địa bàn các xã hoạt động bí mật.

Sau khi thực dân Pháp bị thất bại ở mặt trận Biên giới tháng 9/1950, để cứu vãn tình thế và được Mỹ giúp sức, chúng đã xây dựng hệ thống các cứ điểm từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Vĩnh Phúc sang Sơn Tây, Ninh Bình với 113 cứ điểm, 1.300 lô cốt và 20 tiểu đoàn Âu Phi chiếm đóng. Ở vòng ngoài, địch thực hiện càn quét triệt để hàng trăm làng mạc, hàng chục vạn mẫu ruộng, hoa màu, dồn hàng vạn dân vào vùng kiểm soát nhằm lập “vành đai trắng” ngăn cách giữa vùng tự do vào vùng tạm chiếm, chặn quân ta tràn về đồng bằng.

Về phía ta sau chiến thắng Biên giới, Trung ương Đảng chủ trương: Chủ động mở các chiến dịch nhằm tiêu hao sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích tạo điều kiện cho nhân dân đấu tranh phá kế hoạch “vành đai trắng” của địch. Từ ngày 26/12/1950 đến ngày 17/1/1951, bộ đội chủ lực đã mở chiến dịch Trung Du (Trần Hưng Đạo) địa bàn chủ yếu nằm trên đất Vĩnh Phúc. Trong chiến dịch này, quân và dân Vĩnh Yên đã tham gia cùng bộ đội chủ lực đánh một số trận nổi tiếng.

Ngày 15/1/1951 được tin quân Pháp sẽ từ Hà Nội lên ứng cứu cho đồng bọn đang bị đánh khắp nơi ở Vĩnh Yên; bộ đội chủ lực và du kích xã Hạnh Phúc đã phối hợp tổ chức một trận phục kích ở khu vực thôn Mậu Thông (phường Khai Quang ngày nay). Khi quân địch lọt vào trận địa với ưu thế bất ngờ, quân ta đồng loạt giật mìn, nổ súng chia cắt đội hình địch. Chỉ sau thời gian ngắn, ta đã chặn đứng cuộc hành quân ứng cứu của địch và cùng với trận đánh ở Ngoại Trạch, Bình Xuyên, ta đã tiêu diệt 250 tên địch.

Trong chiến dịch Trung Du, trận đánh ở núi Đinh đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như một chiến công vang dội. Núi Đinh cách thành phố 4 km về phía Đông Bắc theo quốc lộ 2B. Đây là điểm cao lợi hại, nếu chiếm được sẽ khống chế toàn thị xã và cắt đứt con đường giữa vùng tự do Bắc Tam Dương, Lập Thạch với thị xã. Vì vậy, ta và địch đã giành giật nhau quyết liệt. Từ ngày 15/1/1951, địch đã cho máy bay, pháo binh bắn phá ác liệt vào các vị trí quanh núi Đinh mà chúng nghi là có lực lượng của ta ẩn nấp. Trưa ngày 16/1/1951, địch chiếm được các điểm cao 157, 101, 50, 210 và toàn bộ núi Đinh. Bộ đội ta từ các hướng bắt đầu xuất kích lúc 14h 30 phút cùng ngày, đến tối quân ta tổ chức tấn công địch. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở cao điểm 210 và đến gần 1h sáng quân ta dùng lựu đạn thủ pháo đánh mạnh vào các vị trí của quân địch, đã tiêu diệt 100 tên, tàn quân còn lại hoảng sợ tháo chạy về thị xã. Ở cao điểm 101 địch cũng bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn.

Trận chiến đấu diễn ra ác liệt và giành thắng lợi có sự đóng góp không nhỏ của du kích các xã Vĩnh Yên, Định Trung, Hạnh Phúc và các xã lân cận của huyện Tam Dương đã dẫn đường tham gia chiến đấu, tiếp tế vũ khí, tải thương và ủng hộ bộ đội hàng trăm nắm cơm, nhiều thuốc men, nước uống để bộ đội chiến đấu thắng lợi.

Cùng với trận đánh ở núi Đinh, ngày 17/1/1951 bộ đội chủ lực gồm đại đội 2 của F304, 1 trung đội 29 chiến sĩ của bộ đội tỉnh cùng với du kích xã Hạnh Phúc tấn công bốt Hán Lữ, Đình Ấm thuộc xã Hạnh Phúc. Sau đó tiếp tục chặn đánh địch từ Ngoài Trạch (Bình Xuyên) lên ở đồi 42 (Bảo Sơn), đồi 47 (Đình Ấm), tiêu diệt 127 tên địch, bắt sống 1 tên quan Pháp và một số lính, thu 1 súng trung liên, 1 súng tiểu liên, 24 súng trường và nhiều trang bị quân sự khác. Du kích xã Hợp Thịnh cùng bộ đội chủ lực đánh bốt Hạ, đánh mìn ở cầu Lều diệt 1 xe dép và một số tên.

Những trận đánh vang dội của quân và dân Vĩnh Yên đã góp phần rất quan trọng làm nên chiến thắng lớn của chiến dịch Trung Du, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trên tuyến đột xuất, giải phóng 9 xã, 3 thôn, mở rộng cơ sở kháng chiến ở 353 thôn khác trong tỉnh.

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta cho đến những năm 1951-1952 đã chuyển sang giai đoạn cầm cự. Chúng ta đã tích cực chủ động tiến công địch trên nhiều mặt trận, đẩy quân Pháp vào tình trạng lúng túng. Trong tình hình đó, quân và dân Vĩnh Yên đã cùng với bộ đội huyện Tam Dương chủ động tổ chức đánh địch một số trận thắng lợi.

Hàng ngày từ 5 giờ đến 7 giờ sáng có khoảng 40 tên địch hành quân dò mìn bảo vệ tuyến đường sắt và quốc lộ 2, đoạn đi qua xã Hạnh Phúc kết hợp bọn địch từ Hương Canh đi tuần lên, rồi quay về Vĩnh Yên. Để tiêu diệt địch, trấn áp bọn tề, bọn gián điệp phản động ở xã Hạnh Phúc và các xã quanh vùng, để tạo điều kiện củng cố, xây dựng cơ sở kháng chiến trong nội thành. Theo chủ trương của Huyện ủy, bộ đội huyện đã kết hợp với du kích xã Hạnh Phúc điều tra, nghiên cứu tình hình địch và quyết định phục kích đánh địch tại đầu xóm Khai Quang (Vĩnh Thịnh ngày nay). Lực lượng của ta gồm 1 trung đội bộ đội 468 do đồng chí Công Sơn chỉ huy, 1 trung đội du kích do đồng chí Mầu xã đội trưởng xã Hạnh Phúc chỉ huy.

Từ 19 giờ ngày 20/12/1951 đến 24 giờ, quân ta đã đào công sự bố trí xong trận địa, các đơn vị đã vào vị trí sẵn sàng nổ súng. 6 giờ 40 phút ngày 21/12/1951, quân địch xuất hiện trên quốc lộ 2. Khi chỉ còn cách trận địa của ta 100m thì chúng dừng lại. Do phán đoán tình hình sai, chỉ huy trận đánh đã hạ lệnh nổ súng đánh địch. Nhưng do hiệp đồng thiếu chặt chẽ, lại bộc lộ lực lượng quá sớm khi chúng chưa lọt vào trận địa, do đó không tạo được sự bất ngờ, vì vậy địch đã chấn chỉnh lại và chống trả quyết liệt. Sau 20 phút chiến đấu, thấy tình hình bất lợi, quân ta chủ động rút lui theo hướng đồng Mé (nay là khu dân cư Tỉnh ủy). Mặc dù trận đánh không thành công, nhưng huyện đội Tam Dương đã nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm về công tác điều tra địch, tính sâu sát quyết đoán của người chỉ huy và tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ, sự chuẩn bị thiếu chu đáo khi xây dựng trận địa.

Tháng 12/1951, đại đội 468 và du kích xã Hợp Thịnh phục kích địch ở khu nghĩa trang mả Dê, tiêu diệt một số tên lính Pháp.

Trên địa bàn xã Định Trung (khu vực gốc vừng và xóm Bầu thuộc phường Liên Bảo hiện nay) vào lúc 16 giờ ngày 18/7/1952 gần 200 tên địch (có 16 lính Pháp) từ Hương Canh đi qua Vĩnh Yên, theo quốc lộ 2B rồi đi vào khu vực bốt Bầu (làng Hổ), càn quét để thực hiện chính sách bình định. Phát hiện địch càn, đại đội 468 cùng một tiểu đội du kích xã Định Trung và tiểu đội du kích xã Vĩnh Yên đã nhanh chóng tổ chức phối hợp phục kích ở cầu làng Hổ và đánh bốt Bầu. Khi địch lọt vào trận địa, quân ta bất ngờ nổ súng. Sau 4 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt 150 tên, trong đó có tên đội, bắn bị thương 1 quan hai Pháp. Bị đánh bất ngờ và bị tiêu diệt lớn, số quân còn lại tháo chạy về rừng Phay, sáng sớm hôm sau rút về Hương Canh.

Sau thất bại liên tiếp của địch trên các chiến trường Việt Nam nói chung và trên địa bàn Vĩnh Phúc, Vĩnh Yên nói riêng từ năm 1950 đến năm 1953; thực dân Pháp đã điên cuồng mở nhiều cuộc càn quét đẫm máu, thiết lập vành đai trắng nhằm bảo vệ các vùng địch kiểm soát, thực hiện chính sách bình định bằng lực lượng quân sự và các thủ đoạn kinh tế, chính trị.

Ở Vĩnh Yên, địch đã tập trung đánh phá các cơ sở kháng chiến của ta, lập vành đai trắng, lập các tổ chức chính trị phản động.

Ở xã Hạnh Phúc, tháng 6/1952 Huyện ủy Tam Dương chủ trương tiếp tục đưa cán bộ, đảng viên, du kích từ vùng tự do về thôn Khai Quang Đôn Hậu hoạt động xây dựng cơ sở. Do có bọn phản động chỉ điểm, thực dân Pháp đã đưa 40 tên lính ở bốt Bầu về vây càn ở thôn Đôn Hậu sục sạo, tìm bới hầm bí mật và du kích, đảng viên. Liên tiếp trong 5 ngày, địch đóng quân tại xã càn quét các thôn đã bắt 26 người, trong đó có 2 đảng viên; 43 người khác phải chạy ra vùng tự do, trong đó có 15 đảng viên.

Ở thôn Lạc Ý (phường Đồng Tâm ngày nay), ngày 30/8/1952 địch đã càn vào thôn, tìm thấy 30 hầm bí mật, bắt 5 người. Tháng 11/1953, chúng lại càn lớn lần thứ 2 và tìm được 36 hầm bí mật, 2 đồng chí đảng viên hy sinh, làng mạc bị tàn phá nặng nề. Đồng thời với các cuộc càn quét, địch đã triệt phá các làng, dồn dân vào các vùng chúng kiểm soát, ngăn chặn không cho dân cày cấy, gặt hái và sản xuất, tạo thành một vùng trắng quanh Vĩnh Yên, ngăn cách giữa vùng kháng chiến và vùng địch kiểm soát, thiết lập các tổ chức chính trị phản động như Ban chỉ huy quận đoàn, “Hội đồng quản trị”… Tình hình đó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn, đời sống nhân dân bị ảnh hưởng lớn, sản xuất bị đình trệ, tinh thần hoang mang, nhiều nhà có hầm bí mật đã lấp bỏ hoặc không dám nuôi dấu cán bộ, du kích. Nhiều cơ sở chính trị trong nhân dân bị phá vỡ…

Trước tình hình đó để bảo toàn lực lượng, tháng 5/1952 Tỉnh ủy chủ trương “Tạm thời chuyển hướng, hạ thấp khẩu hiệu đấu tranh để nhân dân đi làm đồng sản xuất, đấu tranh để duy trì cơ sở… tất cả nhằm mục đích giữ vững cơ sở([1]). Tiếp đó, cuối tháng 5/1952 Tỉnh ủy chủ trương mở đợt củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương nhằm khắc phục tư tưởng mệt mỏi, hoang mang dao động, thủ tiêu đấu tranh đang diễn ra trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy Tam Dương, cán bộ, đảng viên ở các xã đã tổ chức cho nhân dân đấu tranh chống lại âm mưu lập “vành đai trắng” của địch quanh Vĩnh Yên. Đây là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ. Thường ngày, nhất là những ngày họp chợ, địch từ các bốt, tháp canh đi càn quét tàn phá làng mạc, bắt người cướp của ở xã Hạnh Phúc, Định Trung, Đồng Tâm và khu vực xóm Tiếc, Khâu, Hạ (thuộc phường Tích Sơn ngày nay); không cho nhân dân đi làm đồng, sản xuất, kể cả nhân dân nội thành cũng không đi sản xuất (đa số dân nội thành lúc đó cũng đều có ruộng xâm canh ở các xã). Mặt khác, chúng ngăn chặn không cho nhân dân vùng kháng chiến vào vùng tề để buôn bán, mua hàng hóa sinh hoạt, nhằm triệt phá con đường hậu cần của ta từ vùng địch đưa về khu kháng chiến. Ở những địa điểm quan trọng, chúng gài mìn để chống bộ đội, du kích… Những gia đình bị tình nghi có nuôi, giấu du kích, cán bộ đều bị khủng bố.

Chi bộ, đảng viên của các xã và điển hình là chi bộ xã Vĩnh Yên lúc đó do đồng chí Nguyễn Văn Thư, sau đó là đồng chí Đoàn Khắc Vận làm Bí thư đã lãnh đạo du kích và nhân dân kiên trì đấu tranh với địch. Các chi bộ và đảng viên đã vận động nhân dân dấy lên phong trào lấn vành đai trắng của địch bằng nhiều hình thức như: Khi đi làm đồng không đi lẻ mà tập hợp thành những nhóm lớn vài chục người, có người phụ trách làm cho địch không ngăn cản được; vận động những người làm tề (tề 2 mặt, hay còn gọi là tề kháng chiến) làm đơn lên quận, lên các bốt đề nghị cho nhân dân được đi làm ăn vì đang rất thiếu đói. Nhiều bốt ở các xóm do ta vận động tốt đã nới lỏng sự o ép để nhân dân đi làm. Các xã có dân chạy ra vùng tự do đã vận động nhân dân trở về quê sản xuất, sinh sống.

Để củng cố lực lượng vũ trang, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh, huyện đội Tam Dương tổ chức đợt chỉnh huấn học tập cho cán bộ, chiến sĩ với các nội dung: Mấy vấn đề của cách mạng Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhất định thắng lợi. Qua chỉnh huấn bộ đội đã khắc phục được tình trạng mệt mỏi, sẵn sàng chiến đấu. Lực lượng du kích ở các xã cũng được chỉnh huấn, bổ sung và tập luyện quân sự, học tập chính trị.

Vì vậy, khi ta tổ chức đấu tranh phá vành đai trắng, bộ đội đơn vị 468 và du kích các xã đã canh gác cho nông dân sản xuất và khai phá những khu đất bỏ hoang. Khi có giặc cần thì báo động ẩn nấp, khi địch đi qua lại tiếp tục sản xuất. Có trường hợp, khi bộ đội, du kích và nhân dân đang sản xuất, địch càn đến đã tổ chức đánh đuổi địch, bảo vệ dân. Nhiều nơi nhân dân đấu tranh quyết liệt không kê khai ruộng đất hoặc kê khai ít, khất lần để không đóng thuế cho địch. Đòi giảm tô thuế, đồng thời làm hầm bí mật cất dấu lương thực, thuốc men không cho địch cướp bóc để dự trữ và ủng hộ kháng chiến.

Bằng những hình thức đó, ta đã tạo nên một cuộc đấu tranh có tác dụng cả về kinh tế, chính trị, quân sự, làm rạn nứt và nhiều chỗ đã vô hiệu hóa vành đai trắng của địch quanh Vĩnh Yên. Nhân dân vùng tự do và tạm chiếm vẫn đi sản xuất, buôn bán, liên lạc giữa vùng kháng chiến và vùng địch hậu vẫn đảm bảo. Đây là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương của tỉnh và huyện. Vì vậy, mặc dù ở địa bàn tỉnh lỵ địch mạnh, nhiều thủ đoạn nhưng quân và dân Vĩnh Yên đã phá vỡ kế hoạch vành đai trắng và âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, chia cắt dân với Đảng và du kích của địch. Mặt khác, qua cuộc đấu tranh làm cho lực lượng kháng chiến trong lòng địch ngày càng được củng cố, nhân dân, quân đội, du kích đoàn kết, gắn bó, vững tin vào vai trò lãnh đạo của các chi bộ và đảng viên, góp phần cùng toàn tỉnh làm thất bại âm mưu lập vành đai trắng của địch.

Song song với cuộc đấu tranh chống vành đai trắng của địch, các chi bộ và đảng viên của Vĩnh Yên đã lãnh đạo nhân dân đập tan âm mưu lập các tổ chức chính trị phản động và dồn dân lập đại xã của địch.

Ngay từ đầu năm 1953, để cứu vãn sự tan rã của bộ máy ngụy quyền, địch bày trò lập Hội đồng quản trị. Đến giữa năm 1953, chúng tổ chức thực hiện ráo riết ở Vĩnh Yên. Thực chất, đây là cuộc cưỡng ép nhân dân ở các vùng tạm chiếm lập một tổ chức chính trị thay cho các ban tề được gọi là “Hội đồng quản trị” bằng hình thức bầu cử giả hiệu.

Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã chỉ thị cho các cấp ủy Đảng ở vùng sau lưng địch phải tiến hành: Tuyên truyền, giải thích cho nhân dân rõ: Địch lập “Hội đồng quản trị” là để lừa dối nhân dân, dễ bề cho bọn tay sai bắt lính, thu thuế. Hội đồng quản trị hay tề trước sau chỉ là một tổ chức tay sai cho giặc, hại dân, hại nước, chỉ là đổi tên gọi… vì vậy, phải bằng mọi cách, trong mọi trường hợp lãnh đạo quần chúng đấu tranh không để chúng lập “Hội đồng quản trị”. Đối với những nơi địch bắt ép lập được rồi thì kiên quyết phá bằng hình thức vận động quần chúng không tín nhiệm, thuyết phục số người bị địch ép làm đơn xin nghỉ lấy cớ là hoàn cảnh neo đơn, nghèo túng, dân không tín nhiệm không làm được. ([2])

Ở Vĩnh Yên, các chi bộ Đảng đã hoạt động tích cực, đi sâu bám sát nhân dân tuyên truyền, giải thích làm rõ thực chất phản động của tổ chức “Hội đồng quản trị”. Kịp thời tổ chức cho nhân dân tìm mọi lý do không đi bầu cử. Địch đã huy động quân đi dồn ép, nhân dân cũng không đi bầu. Cuối cùng chúng buộc phải dùng vũ lực bắt dân ký vào phiếu đã ghi sẵn và ép một số người tham gia tổ chức chính trị này.

Với thủ đoạn này, địch đã lập được cái gọi là “Hội đồng quản trị” ở xã Vĩnh Yên, thôn Khai Quang, Hán Lữ (xã Hạnh Phúc), thôn Định Trung (xã Định Trung). Mặc dù tổ chức chính trị trá hình được thành lập ở một số nơi nhưng chỉ là hình thức, đã bị nhân dân tẩy chay không thực hiện hoặc thực hiện lấy lệ những quy định của địch. Chi bộ các xã lãnh đạo du kích, đảng viên tuyên truyền, vận động số nhân viên bị ép buộc không làm ở tổ chức này. Một vài tên ngoan cố đã bị cảnh cáo. Bằng cách đó, ta đã vô hiệu hóa tổ chức “Hội đồng quản trị” của địch. Các chi bộ đã bám sát dân xây dựng được nhiều cơ sở trong quần chúng, đẩy mạnh đấu tranh chính trị. Từ cuối năm 1953, lực lượng chính trị, vũ trang mạnh lên cùng với các hoạt động quân sự giành thắng lợi, đã làm cho “Hội đồng quản trị” dần dần tan giã. Một số nằm im không dám hoạt động, một số thì bỏ việc trốn đi nơi khác làm ăn. Tổ chức chính trị phản động của địch đã thất bại.

Để thực hiện âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lừa gạt thanh niên đi lính cho thực dân Pháp, từ cuối năm 1952 chúng đã tổ chức bầu ra BCH quận đoàn thanh niên Tam Dương. Nòng cốt của tổ chức này là những thanh niên đang làm tay sai cho địch ở nội thành với mục đích dùng thanh niên đã bị mua chuộc, dụ dỗ đi theo địch để tuyên truyền, lừa phỉnh thanh niên đi lính phục vụ chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, hoặc tham gia địa phương quân, hương dũng làm chỉ điểm đánh phá cơ sở kháng chiến của ta ở trong huyện, đặc biệt là khu vực Vĩnh Yên.

Huyện ủy Tam Dương đã chỉ đạo chi bộ các xã lãnh đạo nhân dân tổ chức nhiều hình thức đấu tranh chống lại âm mưu của địch. Các xã lập ra ban lãnh đạo chống bắt lính; các xóm lập ra nhóm chống bắt lính. Tổ chức cho thanh niên cam kết không đi lính cho giặc, tham gia tòng quân. Giải thích rõ cho thanh niên và gia đình vào “Địa phương quân là giúp giặc kéo dài được chiến tranh ăn cướp, làm tan nát gia đình, làng mạc, là có tội với Tổ quốc, với nhân dân, trước sau không thoát khỏi chết oan uổng thảm hại([3]). Cùng với tuyên truyền, giải thích là tổ chức cho thanh niên chốn ra vùng tự do, tham gia bộ đội, du kích, dân công… Các xã Vĩnh Yên, Định Trung, Hạnh Phúc đã đưa được 100 thanh niên tham gia bộ đội, du kích, dân công và các hoạt động phục vụ kháng chiến. Nhân dân và thanh niên khu nội thành không nghe và tham dự các cuộc diễn thuyết, mít tinh, trưng bày tranh ảnh nhằm lừa bịp thanh niên. Không tham gia tập quân sự, không đi dự các cuộc họp và ly khai tổ chức thanh niên phản động của địch.

Bằng những hình thức đấu tranh này, tổ chức thanh niên phản động đã bị vô hiệu hóa ở Vĩnh Yên, đến cuối năm 1953 đầu năm 1954 tổ chức này tan giã. Cuối năm 1953, địch đẩy mạnh hơn kế hoạch dồn dân lập đại xã ở các địa bàn tạm chiếm để kiểm soát và cô lập cán bộ, đảng viên, du kích.

Thôn Bảo Sơn (thuộc xã Hạnh Phúc lúc đó, nay thuộc phường Liên Bảo) bị địch tập trung lực lượng dồn dân ra tỉnh. Ở vào vị trí quan trọng: Phía Bắc của thôn Bảo Sơn giáp bốt núi Bầu, phía Nam giáp thôn Thanh Giã lại có con đường thông sang khu du kích của huyện Bình Xuyên. Thôn này dân số ít, đa số là người nhà của tên phản động Tiệp, trong khi đó ta mới chỉ nắm được 43 quần chúng, phát triển được 8 quần chúng trung kiên, còn lại nhiều người dân chưa dứt khoát. Vì vậy, ngày 8/8/1953 địch ở bốt Bầu ra lệnh trong 7 ngày dân ở thôn này phải dời ra tỉnh nhằm đuổi dân ra khỏi quê hương để dễ kiểm soát và chặt đứt con đường ra vào khu du kích Bình Xuyên từ hướng Vĩnh Yên-Hạnh Phúc.

Chủ trương của huyện là kiên quyết tìm mọi cách chống phá âm mưu của địch và chỉ đạo chi bộ xã Hạnh Phúc cử cán bộ, đảng viên bám sát dân, tích cực, khéo léo giải thích rõ âm mưu sảo quyệt của địch; vận động nhân dân làm đơn lên quận, lên tỉnh. Không dời làng để đảm bảo đời sống và sinh hoạt cho nhân dân. Tổ chức một số người hăng hái, có uy tín trong thôn đến bốt Bầu trực diện đấu lý với giặc nhất định không dời làng về tỉnh. Bên cạnh việc tổ chức cho nhân dân kiên trì đấu tranh, Huyện ủy còn chủ động chuẩn bị cơ sở ở thôn Thanh Giã để cho nhân dân thôn Bảo Sơn về đó ở, tiếp tục đảm bảo sản xuất sinh sống nếu đấu tranh thất bại.

Sau mấy ngày đấu tranh quyết liệt, cán bộ, đảng viên trực tiếp cùng nhân dân đấu tranh kiên quyết có tổ chức, có kế hoạch cụ thể, vừa củng cố quyết tâm cho nhân dân ta nắm được, vừa vận động thuyết phục một số dân, trong đó có cả một số người nhà tên Tiệp. Cuối cùng, cuộc đấu tranh đã thắng lợi. Qua cuộc đấu tranh này, thôn Bảo Sơn vốn xếp cơ sở loại C nay đã gây dựng ở thôn được một số nhân cốt, tạo đà cho nhân dân tham gia kháng chiến mạnh hơn trước.

Để hỗ trợ đấu tranh chính trị, kinh tế; thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 11/9/1953 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phá hoại địa phương quân; Huyện ủy Tam Dương đã chỉ đạo huyện đội đưa một số tiểu đội vào nội thành phối hợp với du kích xã Vĩnh Yên đánh bọn địa phương quân ở bốt Vĩnh Thành. Ở bốt này có 37 tên địa phương quân, hàng ngày hành quân đi càn ra ngoài. Sau khi trinh sát kỹ, quân ta tổ chức phục kích, sang đêm thứ 2 quân địch xuất hiện, lập tức ta đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch bỏ chạy tán loạn. Nhưng đây không phải là bọn địa phương quân mà là lính phòng nhì. Mặc dù vậy từ ngày 25/10/1953, bọn địa phương quân hoảng sợ không dám mở rộng hoạt động ra ngoài phạm vi Vĩnh Yên, mà chỉ cố thủ trong bốt Vĩnh Thành. Cũng từ sau trận đánh này, bọn địch ở các bốt trong nội thành đã thu hẹp phạm vi lùng sục và mật độ hoạt động, tạo điều kiện cho ta phát triển lực lượng. Cũng thời gian này, du kích xã Hợp Thịnh phối hợp với một số công binh của Đại đội 468 đánh mìn ở bãi Loan và đánh sập cầu Khoang. Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị ra nghị quyết về mở cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, đánh địch trên khắp các chiến trường. Ngay sau đó, Tỉnh ủy đã triệu tập hội nghị Tỉnh ủy mở rộng để học tập nghị quyết của Bộ Chính trị và đề ra nghị quyết “Kiên quyết bố trí lực lượng chống địch càn quét, bảo vệ du kích, bảo vệ tính mạng tài sản nhân dân. Tăng cường phá hoại giao thông để cản bước tiến của địch”, vì cuối năm 1953 địch đã chuẩn bị lực lượng cho những trận càn lớn và Tỉnh ủy đã sớm nhận định tình hình đó tại hội nghị mở rộng trung tuần tháng 9/1953.

Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy và sự chỉ đạo của Huyện ủy Tam Dương, các cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang ở các xã và khu nội thành được củng cố và phát triển. Cuối năm 1953, ta chủ động tiến công địch cả quân sự, chính trị, địch ngụy vận.

Về quân sự: Du kích xã Hạnh Phúc đã tổ chức 7 lần đánh mìn trên quốc lộ 2 và những trục đường địch thường xuyên tuần tiễu, phá hủy 3 xe quân sự, tiêu diệt 9 tên, làm bị thương 4 (trong đó có 1 quan ba Pháp), góp phần quan trọng làm cản bước tiến của địch trong các trận càn ra vùng tự do. Cùng với các cuộc tấn công địch, du kích xã cùng nhiều người dân còn thường xuyên tổ chức đi cắt dây diện thoại của địch dọc quốc lộ 2 và đường dây thông tin giữa các bốt, thu hàng vạn mét dây, gây cho địch khó khăn lớn trong việc chỉ huy.

Ở Đồng Tâm, chi bộ đã lãnh đạo tiểu đội du kích phối hợp với một trung đội của C468 tổ chức 2 trận đánh độn thổ ở xóm Trung và Quán Tiên, tiêu diệt 1 tên đội Pháp, bắt sống 2 tên, thu 6 súng. Tiếp đó tiến đánh tề ở xóm Lồ, quân địch hoảng sợ phải bỏ chạy, ta thu 1 súng trường và một số đạn. Du kích Hợp Thịnh cùng với 1 đơn vị của đại đội 468 đánh độn thổ ở khu vực Quán Tiên, diệt 1 trung đội địch, bắt 5 tên, thu 11 súng trung liên, 3 tiểu liên, 6 súng trường.

Về xây dựng cơ sở: Do lực lượng vũ trang của ta hoạt động mạnh nên đã tạo điều kiện và cổ vũ nhiều gia đình cơ sở cũ ở các thôn của xã Hạnh Phúc, Đồng Tâm, Định Trung được củng cố, nhân dân đã sửa sang, đào mới nhiều hầm bí mật, tiếp tục nuôi chứa cán bộ, đảng viên, bộ đội và du kích hoạt động, đồng thời nhiều cơ sở mới được phát triển tại chỗ đứng khá vững ngay trong lòng địch. Đặc biệt, ở khu vực nội thành nơi địch tập trung lực lượng mạnh, kiểm soát chặt chẽ nhưng chi bộ đã kiên trì dũng cảm lãnh đạo du kích phối hợp với bộ đội để tổ chức những hoạt động chống địch, gây tiếng vang lớn. Lực lượng vũ trang của ta từ bên ngoài vào các khu phố, các xóm bắt hoặc cảnh cáo bọn phản động, vận động nhân dân đóng thuế nông nghiệp, quyên góp tiền của, lương thực, thuốc men… ủng hộ kháng chiến, không đóng thuế cho địch. Xây dựng các cơ sở kháng chiến ở xóm Tiếc, Hạ, Gạch, Sậu, phố Chiền. Ở những nơi này, nhân dân đều đào hầm bí mật che dấu cán bộ, du kích, cất dấu lương thực ủng hộ kháng chiến. Trong hàng ngũ địch, ta cũng xây dựng được một số nhân mối, đồng thời tích cực làm công tác ngụy vận. Những tháng cuối năm 1953, lực lượng kháng chiến của khu vực xã Vĩnh Yên đã vận động được 7 ngụy binh bỏ ngũ về với gia đình và bằng nhiều hình thức tổ chức, vận động thanh niên không vào địa phương quân. Từ đó, quân địch không phát triển được lực lượng địa phương quân ở xã Vĩnh Yên khu vực nội thành.

Cùng thời gian này, xã đã phát triển thêm 6 du kích, 3 thanh niên tình nguyện xung phong vào tổ công tác quân báo nội thành. Như vậy, từ cuối năm 1953 trở đi khu vực xã Vĩnh Yên luôn luôn có 10 đảng viên, 12 du kích hoạt động được che dấu, nuôi dưỡng. Đây là lực lượng hoạt động thầm lặng nhưng đã gây cho địch rất nhiều khó khăn trong việc chỉ huy chiến tranh trên địa bàn tỉnh, đồng thời cung cấp cho huyện, tỉnh nhiều tin tức quan trọng về trung tâm chỉ huy của địch để ta đối phó.

Riêng ở xã Tam Đảo, trong suốt thời gian kháng chiến, nơi đây được coi là vùng tự do. Chi bộ xã đã lãnh đạo nhân dân xây dựng nơi đây thành căn cứ kháng chiến vững chắc. Du kích và nhân dân đưa đón hàng trăm lượt cán bộ, bộ đội đi công tác qua lại giữa 2 vùng Thái Nguyên và Vĩnh Phúc an toàn. Vận chuyển nhiều tài liệu, phương tiện, vũ khí phục vụ kháng chiến. Vận động gần 100 thanh niên tham gia bộ đội, du kích, dân công hảo tuyến, góp phần cho cuộc kháng chiến chung của dân tộc đi đến thắng lợi.

Sang năm 1954, ta tiến công địch trên các chiến trường toàn quốc, làm cho kế hoạch tập trung lực lượng cơ động mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ của Nava thất bại. Ở Vĩnh Phúc, chúng buộc phải rút đại bộ phận quân cơ động để bổ sung cho các chiến trường khác. Đây là thời cơ thuận lợi cho ta đẩy mạnh các hoạt động chống địch trên các địa bàn của tỉnh.

Tại Vĩnh Yên, Huyện ủy Tam Dương đã phổ biến nghị quyết của Tỉnh ủy họp ngày 9/1/1954 về phương hướng công tác vùng sau lưng địch năm 1954 đến các chi bộ, đảng viên và du kích. Nội dung chủ yếu là đẩy mạnh các hoạt động vũ trang ở địa phương phối hợp với chiến trường toàn quốc, củng cố và đẩy mạnh chiến tranh du kích, phá hoại kế hoạch Nava, khôi phục và tăng cường các hoạt động của các tổ chức quần chúng, đẩy mạnh ngụy địch vận, chống địch bắt lính. Kiện toàn các lực lượng vũ trang, nâng cao sức chiến đấu của các đơn vị, kể cả du kích.

Từ tháng 1 đến tháng 4/1954, được huyện tăng cường cán bộ và bộ đội về thị xã; các xã Hạnh Phúc, Đồng Tâm, Định Trung, Vĩnh Yên đã tăng cường hoạt động quân sự, chính trị gây cho địch nhiều thiệt hại.

Tháng 2/1954, du kích xã Hạnh Phúc đánh mìn trên quốc lộ 2, tiêu diệt 2 xe quân sự và nhiều tên địch. Chỉ trong quý I năm 1954, du kích đã cắt 83.500m dây điện thoại của địch, bằng 73% số dây điện thoại bị cắt trong toàn tỉnh. Ngày 27/2/1954, du kích xã Đồng Tâm phối hợp với đại đội 202 của tỉnh tấn công bốt cầu Oai. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ác liệt, ta phá sập lô cốt, tiêu diệt 11 tên, bắt sống 1 tên. Tiếp đó, ngày 28/4/1954, C468 của huyện cùng với du kích đánh bốt cầu Oai lần 2 nhưng không thành công. Cũng trong thời gian này, du kích xã Vĩnh Yên cùng du kích xã Định Trung đánh tháp canh Cống Tỉnh, tháp canh Định Trung làm cho địch phải tháo chạy. Cùng với hoạt động quân sự, dưới sự lãnh đạo của chi bộ VĩnhYên, Định Trung, Hạnh Phúc, du kích 3 xã đã rải truyền đơn, kẻ khẩu hiệu tuyên truyền về thắng lợi của ta ở chiến trường Điện Biên Phủ và ở hội nghị Giơnevơ, đồng thời du kích các xã còn đột nhập vào các gia đình ngụy binh khi chúng về thăm nhà để tuyên truyền. Những hoạt động đó đã củng cố niềm tin tưởng, phấn khởi trong nhân dân vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và làm lung lay ý chí xâm lược của địch. Vì vậy, địch ở xã Hạnh Phúc không tuân lệnh cấp trên đi càn, lính ở bốt Định Trung tìm cách liên lạc với ta.

Với những hoạt động quân sự, chính trị dồn dập như vậy, chỉ trong mấy tháng đã xây dựng nên cơ sở kháng chiến của ta trong nhân dân khá vững chắc, tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên và du kích trở về địa phương hoạt động đông hơn, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lại những thủ đoạn của địch ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đưa phong trào kháng chiến ở Vĩnh Yên đi đến những thắng lợi hoàn toàn.

Do thất bại nặng nề trên các chiến trường trong cả nước, lại bị lực lượng ta tấn công mạnh ở tỉnh, huyện nói chung và ở nội thị nói riêng, nên địch đã có những âm mưu, thủ đoạn mới chống lại ta.

Về quân sự: Địch ráo riết và trắng trợn hơn trong việc bắt lính bổ sung cho quân số ngày càng thiếu hụt. Những ngày đầu năm 1954, địch tổ chức vây chợ thành phố để bắt những thiếu niên từ 14-15 tuổi vào lính. Thâm độc hơn, chúng tuyên truyền thành lập nữ địa phương quân, thay cho nam địa phương quân xung vào lực lượng Comăngđô và bắt một số phụ nữ ở xã Vĩnh Yên, Hạnh Phúc, Định Trung vào lực lượng này. Tổ chức càn phá cơ sở của ta ở xã Vĩnh  Yên, Hạnh Phúc. Phục kích ngả đường vào khu nội thành, xã Định Trung và xã Hạnh Phúc để bắt cán bộ, đảng viên và du kích.

Về chính trị: Chúng lập ra các ban “cải cách điền địa” ở xã Định Trung, Hạnh Phúc, Đồng Tâm để lừa gạt nhân dân, xoa dịu tinh thần đấu tranh của nhân dân. Chia rẽ giữa người theo đạo thiên chúa và người không theo đạo bằng cách ngăn cấm người theo đạo không được tiếp xúc với người không theo đạo. Thâm hiểm hơn để làm li tán giữa Việt Minh và nhân dân, chúng đã dùng lựu đạn ném vào nhà dân rồi vu cho Việt Minh khủng bố.

Về kinh tế: Địch tăng cường vơ vét, cướp phá, đặt ra nhiều thứ thuế vô lý như thuế “đảm phụ bảo an” để phục vụ cho cuộc chiến tranh.

Mặc dù địch tăng cường những thủ đoạn mới đánh phá ta, nhưng cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang trên đà thắng lợi. Ngày 7/5/1954, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đòn quyết chiến chiến lược đã làm cho quân địch lâm vào thế thất bại, tinh thần binh lính hoảng loạn. Đối với nhân dân cả nước, đây là thắng lợi vang dội làm nức lòng nhân dân và cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, cổ vũ mạnh mẽ toàn dân ta tiến lên đánh mạnh hơn nữa.

Căn cứ vào tình hình địch, nắm vững thời cơ thuận lợi, Huyện ủy Tam Dương đã chỉ đạo chi bộ các xã đẩy mạnh các hoạt động chính trị, xây dựng các tổ chức quần chúng mạnh để đấu tranh chống âm mưu địch, tăng cường vận động binh lính địch về với cách mạng; đồng thời đánh mạnh vào các đồn bốt, tháp canh của địch ở các xã hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chính trị.

Thực hiện chủ trương đó, chi bộ các xã Vĩnh Yên, Hạnh Phúc, Định Trung, Đồng Tâm đã tổ chức ra các tổ nông dân, thanh niên, phụ nữ để đấu tranh với địch. Các xã đã xây dựng được 33 tổ làm nòng cốt cho đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, không nộp thuế cho địch, tẩy chay Hội đồng quản trị, chống địch lập địa phương quân…

Trong tháng 5 và tháng 6/1954, du kích xã Hạnh Phúc đã 2 lần vũ trang tuyên truyền vào thôn Bảo Sơn, đột nhập vào 50 gia đình ngụy binh để giải thích chính sách của Đảng, Chính phủ ta đối với những người lầm đường lạc lối theo địch. Nhiều lần gọi loa vào bốt cầu Thanh Giã, rải 138 truyền đơn các loại vào các vị trí địch, kêu gọi họ trở về với nhân dân.

Ở Định Trung, du kích rải 198 tờ truyền đơn vào các vị trí địch, 3 lần gọi loa vào bốt Láp. Trong khu nội thành, chi bộ đã tổ chức lập ra 3 tổ phụ nữ gồm 100 người có chồng con đi lính cho Pháp kéo lên các bốt đòi chồng, con về với gia đình. Du kích gọi loa 4 lần vào bốt Cống Tỉnh, rải 365 tờ truyền đơn các loại vào các vị trí của địch, viết 20 lá thư tay gửi cho ngụy binh, 40 lần đột nhập vào gia đình ngụy binh để tuyên truyền. Kết quả là 15 tên ở các vị trí của khu vực nội thành, 10 tên ở xã Hạnh Phúc, 4 tên ở Định Trung đã mang súng về với nhân dân. Những hoạt động đó tuy không tiêu hao nhiều sinh lực địch, nhưng là đòn cân não đánh vào tinh thần, tạo nên sự hoang mang, nao núng lan truyền trong tư tưởng quân địch.

Từ giữa tháng 7 trở đi, bọn địch ở Vĩnh Yên hoang mang, dao động cao độ, chúng rút dần lực lượng về Hà Nội để tránh bị bộ đội ta tấn công tiêu diệt từ hướng Bắc Vĩnh Tường. Đây là thời cơ thuận lợi để ta mở các cuộc tiến công vào các vị trí địch trong các xã và nội thành Vĩnh Yên.

Đêm ngày 16/7 du kích nội thành gồm 15 đồng chí phối hợp với bộ đội huyện Tam Dương tấn công bốt địa phương quân Vĩnh Thành, bắt sống 7 tên, thu 9 súng trường, số còn lại bỏ chạy khỏi bốt. Vị trí này ta đã tiêu diệt gọn.

Đêm ngày 17/7 du kích nội thành, Định Trung phối hợp với bộ đội huyện đánh bốt Cống Tỉnh, tiêu diệt 10 tên, thu 1 súng tiểu liên, 2 súng trường; tiếp đó lực lượng này tấn công bốt Quận, tiêu diệt 2 tên trong đó có tên Quận trưởng, bắt 5 tên, thu 21 súng trường.

Cùng thời gian này, du kích xã Hạnh Phúc, Định Trung đánh mìn ở quốc lộ 2 diệt xe địch, tổ chức nhiều cuộc địch ngụy vận góp phần làm tan giã quân địch.

Trong lúc quân dân Vĩnh Yên đang tập trung tấn công địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, thì một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt diễn ra. Đó là ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, ngày 27/7 ngừng bắn hoàn toàn trên lãnh thổ 3 nước Đông Dương. Như vậy, sau 9 năm gian khổ và anh dũng chiến đấu, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã thắng lợi hoàn toàn.

Trên địa bàn Vĩnh Yên, do những cuộc tiến công liên tiếp của quân và dân ta cả về quân sự và chính trị đã buộc địch phải rút khỏi các xã, phường thuộc thành phố Vĩnh Yên ngày nay. Đến 9 giờ 30 phút ngày 31/7/1954, tên lính thực dân Pháp cuối cùng đã cút khỏi Vĩnh Yên (tức nội thành).

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ra nghị quyết về việc tiếp thu vùng mới giải phóng (trong đó có hai đô thị là Vĩnh Yên và Phúc Yên). Riêng nội thị Vĩnh Yên, để chuẩn bị cho tiếp quản, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã thành lập “Ban thu hồi thị xã([4]) gồm: Một tiểu đoàn bội đội chủ lực, 11 công binh và cảnh vệ, 12 cán bộ các ngành chuyên môn và dân vận do đồng chí Dương Đức Lâm, Tỉnh ủy viên làm Trưởng ban, đồng chí Vũ Ngọc Linh làm Phó ban.

Theo kế hoạch của Ban thu hồi, việc tiếp quản thị xã cấp tỉnh lỵ phải được tổ chức chặt chẽ, trật tự, an toàn, đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đảm bảo ổn định mọi mặt của đời sống nhân dân ngay từ ngày đầu. Vì vậy tiếp quản thị xã được chia làm 2 bước:

Bước 1: - Chiếm lĩnh những nơi địch vừa rút khỏi, bố trí canh gác bảo vệ, giữ gìn trật tự an ninh.

- Niêm phong những tài sản của gia đình vắng chủ và kho tàng của địch, chống lại mọi sự phá hoại.

- Tịch thu tài sản, tài liệu của địch.

- Gặp gỡ một số nhân viên chuyên môn như giáo dục, y tế để giải thích chính sách sử dụng của ta.

Bước 2: - Triệu tập nhân dân để giải thích chính sách của Đảng, Chính phủ ta đối với tù, hàng binh, đối với ngụy binh và vùng giải phóng.

- Căn cứ từng khu vực dân cư, tôn giáo, bà con tiểu thương, thợ thủ công, viên chức để có nội dung tuyên truyền cho phù hợp đối tượng.

-  Thu giấy thông hành của địch, phát giấy thông hành của ta.

- Chuẩn bị lập các tổ chức như công đoàn, thiếu nhi.

- Tổ chức mít tinh ra mắt nhân dân.

Ban thu hồi thị xã Vĩnh Yên đã thực hiện đúng theo kế hoạch trong thời gian địch rút khỏi thị xã. Khi Ban thu hồi chưa vào, Huyện ủy Tam Dương đã cử 3 trung đội bộ đội huyện vào chiếm các vị trí then chốt, canh gác những điểm quan trọng, thực hiện chế độ quân quản.

Lực lượng của thị xã khi vào tiếp quản gồm: 29 du kích (trong đó có 2 nữ) với vũ khí 1 trung liên, 4 tiểu liên, 18 súng trường, 58 lựu đạn và chi bộ Vĩnh Yên gồm 28 đồng chí.

Ban thu hồi thị xã Vĩnh Yên họp phân công cán bộ, bộ đội vào tiếp quản thị xã. 24 giờ ngày 31/7/1954, Ban thu hồi tiến vào thị xã tiếp quản những vị trí trọng yếu. 8 giờ sáng ngày 1/8, ta tiếp thu nốt những vị trí còn lại. Bắt đầu từ đây, mọi hoạt động của thị xã do Ban thu hồi điều hành.

Tiếp đó, các đảng viên trong chi bộ, đơn vị du kích kết hợp với cán bộ, bộ đội tỉnh, huyện tản về các khu phố, thôn xóm giải thích rõ cho nhân dân các nội dung về:

- Ý nghĩa của hiệp định đình chiến.

- Chính sách đại đoàn kết toàn dân của ta.

- Vấn đề bảo vệ tài sản của công và tư.

- 10 điều kỷ luật tiếp thu vùng giải phóng.

- Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với ngụy binh.

- Vấn đề tiền Đông Dương lưu hành như thế nào.

Việc giải thích kịp thời đã tạo nên tâm trạng yên tâm ổn định, tin tưởng và phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân, nhất là những gia đình ngụy binh và bản thân các ngụy binh.

Nhân dân trong thị xã chủ động nhạy bén may sẵn cờ đỏ sao vàng khi địch rút đến đâu nhân dân treo cờ đến đó. Khi Ban thu hồi thị xã Vĩnh Yên vào, cả thị xã rực rỡ cờ đỏ sao vàng chào đón đoàn quân chiến thắng trở về.

Sau 3 ngày triển khai tiếp quản thị xã đảm bảo chặt chẽ, an toàn, trật tự và đúng kế hoạch đề ra.

Về quân sự: Ta tiếp nhận đầu thú 131 ngụy binh gồm địa phương quân, bảo an binh, lính dù, bảo chính đoàn. Trong số này, có 4 tên là gián điệp đã báo cho ta toàn bộ về tổ chức và vũ khí của địch ở thị xã. Có những vợ binh lính còn báo cho ta việc chồng dấu vũ khí, âm mưu chống lại ta và đề nghị cho đi cải tạo. Ta thu một số đạn dược, thực phẩm, thuốc ở căng tin Vĩnh Yên.

Về chính trị: Huyện ủy Tam Dương cử 3 đồng chí cán bộ huyện về làm nhiệm vụ Ủy ban kháng chiến hành chính lâm thời thị xã: Đồng chí Đoàn Khắc Vận làm Bí thư chi bộ, đồng chí Đặng Văn Sâm (tức Sơn Hà) làm Chủ tịch Ủy ban hành chính lâm thời thị xã. Ta đã giải tán toàn bộ các tổ chức chính trị phản động do địch lập ra trước đây như Đoàn thanh niên, Phụ nữ quốc gia, Hội phật giáo… Bộ phận công an đã nắm ngay tình hình chính trị, khai thác tài liệu, vận động bọn tay chân của địch ra đầu thú; theo dõi và khống chế mọi hành vi phá hoại của địch, hủy giấy thông hành của địch, cấp giấy thông hành của ta cho nhân dân.

Tài sản, nhà cửa của nhân dân được bảo vệ, 9 y tá, 5 giáo viên, 19 phu công nhật của công ty công chính được đối sử đúng chính sách của Chính phủ. Sau khi tiếp quản xong các vị trí, ổn định dân, thành phố đã tổ chức mít tinh trọng thể tại sân vận động. Gần 3000 người với cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu đã tưng bừng chào đón chính quyền lâm thời ra mắt trước nhân dân.

Nhiệm vụ tiếp quản thị xã đã hoàn thành khá tốt theo kế hoạch đề ra. Những chính sách và quy định được chấp hành đúng, giữ vững trật tự an ninh, ổn định được sinh hoạt của nhân dân. Có kế hoạch cụ thể kịp thời đối phó với bọn địch ngoan cố, tích cực vận động binh lính ra đầu thú. Cán bộ các ngành, du kích và bộ đội tích cực, cố gắng giải quyết được nhiều việc theo chức năng của mình.

Những khuyết điểm chủ yếu là: Việc chuẩn bị cho tiếp quản chưa thật chu đáo, còn thiếu sót, nắm tình hình địch chưa vững nên vào tiếp quản còn chậm, chưa kịp thời. Một số việc ban đầu làm còn lúng túng như phổ biến chính sách, phát hành truyền đơn, khẩu hiệu… Chưa có sự hợp đồng công việc giữa các bộ phận; số cán bộ bổ sung sau do chưa được học tập kỹ nên giải thích chính sách chưa đạt; cá biệt có cán bộ vi phạm kỷ luật.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, của dân tộc ta trải qua 9 năm chiến đấu ngoan cường, đã giành thắng lợi vẻ vang. Ở thị xã Vĩnh Yên, quân và dân thị xã có 5 năm trực tiếp đương đầu với kẻ thù. 5 năm ấy dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy Tam Dương, các chi bộ Đảng, cán bộ đảng viên, du kích đã kiên cường dũng cảm, mưu trí, bám đất, bám dân, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, không sợ hy sinh, đã kiên trì xây dựng cơ sở trong nhân dân và cùng với nhân dân ngoan cường đấu tranh đánh địch trên các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, địch vận, đánh bại thực dân Pháp và tay sai ở thị xã Vĩnh Yên, giải phóng Vĩnh Yên, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của tỉnh và cả nước.

5 năm chống thực dân Pháp, quân và dân Vĩnh Yên đã đánh địch trên 30 trận lớn nhỏ, trong đó có những trận đánh nổi tiếng đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam như trận đánh núi Đanh, các trận phục kích địch ở xã Hạnh Phúc. Tiêu diệt gần 1000 tên địch, bắt hơn 200 tên, thu nhiều súng đạn, phương tiện chiến tranh, phá hủy 12 xe quân sự, cắt hàng vạn mét dây điện thoại, đào 12.400 mét hào giao thông, 440 hầm trú ẩn và hầm bí mật nuôi dấu cán bộ đảng viên, du kích, bộ đội, rào 17.800 mét làng kháng chiến, đào bẫy 1.750 hố chông các loại. Đóng góp 4.000 tấn lương thực, 100 tấn thực phẩm cho kháng chiến. Tiễn đưa 480 thanh niên nhập ngũ, 1.400 người tham gia dân công hỏa tuyến, trong đó có nhiều chiến sỹ đã lập công lớn, tiêu biểu là chiến sỹ Hoàng Cầm ở xã Tam Đảo là người phát minh ra bếp Hoàng Cầm cho quân đội ta và được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua toàn quốc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thị xã đã có 205 liệt sĩ, 78 thương binh và 8 gia đình có công với nước, 35 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Vĩnh Yên được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở thị xã đã giành thắng lợi, trước hết là do sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là của Đảng bộ tỉnh và Huyện ủy Tam Dương; sự hỗ trợ thường xuyên kịp thời, có hiệu quả cao của bộ đội chủ lực, đơn vị 468 Tam Dương.

Các xã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh địa phương huy động được toàn thể nhân dân đoàn kết đứng lên đánh kẻ thù. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, du kích dưới sự lãnh đạo của Thị ủy, của các chi bộ xã đã kiên cường, anh dũng vượt qua hy sinh, gian khổ kiên trì bám đất, bám dân đi sâu vào lòng địch, tích cực hoạt động tiến công địch mạnh mẽ trên các mặt trận, do đó đã tạo nên thắng lợi.

Nhân dân thị xã Vĩnh Yên với truyền thống cần cù, sáng tạo trong sản xuất, anh dũng trong đánh giặc ngoại xâm và là nơi có phong trào cách mạng sớm nhất của tỉnh, những truyền thống ấy đã phát huy cao trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nhân dân đã tham gia vào toàn bộ công cuộc tiêu thổ kháng chiến, đào phá giao thông, xây làng kháng chiến đến cung cấp sức người, sức của, đào hầm bí mật, nuôi dấu cán bộ, du kích; nhiều gia đình là cơ sở kháng chiến đã chịu hy sinh, tra tấn để bảo vệ Đảng và nhân dân, đã tạo nên đội quân chính trị trực tiếp đấu tranh đánh địch trên mặt trận chính trị, kinh tế, địch vận giáng những đòn mạnh vào lực lượng địch; góp phần cùng với tiến công quân sự làm tan giã hàng ngũ địch.

Sức mạnh đoàn kết nhân dân và sức mạnh truyền thống là một nguyên nhân vô cùng quan trọng tạo nên chiến thắng của chúng ta.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã để lại những bài học quí cho Đảng bộ về xây dựng Đảng.

Trong cuộc kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ và ác liệt có lúc phong trào tưởng như không đứng vững được ở một số nơi. Những lúc đó hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên cần phải vững vàng, kiên định, không sợ hy sinh gian khổ, tuyệt đối trung thành và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến, biết dựa vào dân để từng bước xây dựng cơ sở cách mạng, trên cơ sở đó vận dụng những chỉ thị, nghị quyết của Đảng một cách sáng tạo, kịp thời vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương.

Giữ nghiêm kỷ luật Đảng, đề cao nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng. Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất, mất sức chiến đấu, kể cả việc tuyên bố giải thể chi bộ Đảng nếu không còn khả năng lãnh đạo, xây dựng một chi bộ mới gồm những đảng viên trung kiên thì mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao.

Thường xuyên coi trọng công tác phát triển đảng viên mới nhưng phải đảm bảo tính nguyên tắc, tiêu chuẩn, chất lượng thì mới nâng cao được sức chiến đấu của Đảng, phải tránh cả hai khuynh hướng: Tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, bản vị và chạy theo số lượng hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ đến mấy, nếu Đảng gần dân, toàn tâm, toàn ý vì lợi ích của nhân dân, đồng cam cộng khổ với dân thì sẽ được nhân dân tin yêu, che chở, đùm bọc giúp đỡ và tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng mọi kẻ thù.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân thị xã Vĩnh Yên thắng lợi đã mở ra một thời kỳ phát triển mới, cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

 Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thành phố




([1]) Trích báo cáo tổng kết địch hậu 1952 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

([2]) Trích Thông tri số 39-TT/TU của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

([3]) Trích chỉ thị chống thành lập địa phương quân của Tỉnh ủy ngày 15/8/1953.

([4]) Chúng tôi chưa rõ lý do tỉnh dùng từ “thị xã” trong văn bản. Để tiện theo dõi, chúng tôi vẫn dùng từ thị xã trong sự kiện này mà không dùng từ xã Vĩnh Yên.

 

Các tin đã đưa ngày: