Tiến hành khôi phục, cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa (1955-1960)

21/08/2017

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ tháng 7/1954 lập lại hòa bình ở Đông Dương. Theo tinh thần của hiệp định, đất nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền. Miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra được hoàn toàn giải phóng. Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời dưới chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ. Đứng trước tình hình thực tế của đất nước, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp từ ngày 5 đến ngày 7/9/1954 và ra Nghị quyết “Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng”. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành, cuộc đấu tranh ái quốc còn đang tiếp tục, phương thức đấu tranh cần phải thay đổi. Chúng ta cần hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới([1]).

Đồng thời, nghị quyết đã xác định nhiệm vụ trước mắt của Đảng ta là: “Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc([2]).

Như vậy sau 1954, cách mạng Việt Nam cùng một lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc.

Thị xã Vĩnh Yên sau ngày hòa bình lập lại về địa giới hành chính được chia thành 8 khu là Vĩnh Thịnh, Tân Lập, Chiền 1, Chiền 2, Tân Phúc, Đình, Vĩnh Tân và Dinh. Dân số thị xã Vĩnh Yên tính đến ngày 24/7/1954 có 4.236 người. Do số lượng đảng viên ít nên sau ngày tiếp quản thị xã, cán bộ lãnh đạo các khu phố hầu hết là những quần chúng tích cực tham gia.

Là trung tâm kinh tế, chính trị cấp tỉnh nhiều năm dưới chế độ thực dân đế quốc, tuy cơ sở kinh tế công nghiệp không có gì nhưng lối sống thực dân cùng với bao nhiêu tệ nạn xã hội ở đây còn rất nặng nề. Đời sống đại bộ phận nhân dân khó khăn do nạn đói gây ra. Nhà cửa người dân tuy là thị xã nhưng vô cùng đơn sơ, chật hẹp và lạc hậu, trình độ dân trí của người dân còn thấp kém.

Có thể nói, sau ngày hòa bình lập lại tình hình an ninh trật tự, diễn biến tư tưởng của nhân dân và một bộ phận cán bộ, đảng viên còn rất phức tạp. Một bộ phận nhân dân hoang mang lo lắng sợ cách mạng trả thù vì bản thân hoặc người thân ít nhiều có liên quan đến chính quyền địch trước đây. Một số người nhẹ dạ cả tin nghe theo địch đã di cư vào Nam (có 15 người theo đạo Thiên chúa, 20 người lương). Một số phần tử phản động ngoan cố lợi dụng tình hình khó khăn của cách mạng sau ngày giải phóng đã có những biểu hiện chống đối lại chính quyền như chống lại chính sách thuế công, thương nghiệp của Đảng, cắt dây điện… Một bộ phận cán bộ, đảng viên và những người có ít nhiều tham gia kháng chiến nay hòa bình lập lại bắt đầu xuất hiện tư tưởng muốn nghỉ ngơi. Tất cả những khó khăn và diễn biến tư tưởng trên là một trở ngại không nhỏ khi Vĩnh Yên bắt tay vào xây dựng lại quê hương. Song, một thuận lợi cơ bản bao trùm là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi vừa qua là một nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với đông đảo nhân dân vững vàng tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, quyết tâm lao động sản xuất, cải thiện đời sống, xây dựng lại quê hương.

Để phát huy những thuận lợi, từng bước khắc phục khó khăn, chi bộ Đảng xác định phải nhanh chóng ổn định về mặt tư tưởng và từng bước ổn định đời sống nhân dân, đây là hai nhiệm vụ cấp bách lúc này ở thị xã Vĩnh Yên. Theo hướng dẫn của trên, chi bộ đã tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nội dung học tập là quán triệt tinh thần cơ bản lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch sau hội nghị Giơnevơ, lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 7/9/1954 về tình hình mới và những chính sách mới của Đảng. Đồng thời, vạch trần những âm mưu thủ đoạn của địch để nhân dân kịp thời phát hiện.

Để giải quyết nạn đói trong nhân dân, chi bộ Đảng và chính quyền các khu phố, động viên nhân dân tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, kết hợp với cứu tế của trên, kiên quyết không để hộ nào phải đứt bữa. Về lâu dài, chính quyền động viên nhân dân tích cực trồng nhiều rau màu, không để đất hoang. Với chủ trương trên, nạn đói từng bước được khắc phục.

Từ năm 1955-1960 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Đảng, nhân dân thị xã Vĩnh Yên cùng nhân dân trong tỉnh bước vào thực hiện nhiệm vụ khôi phục, cải tạo các thành phần kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa. Do đặc điểm thị xã Vĩnh Yên đại bộ phận nhân dân làm nghề buôn bán, có tới 62 ngành buôn bán và sản xuất thủ công nghiệp lớn nhỏ khác nhau, rất ít người sản xuất nông nghiệp. Sau khi tổ chức cho các hộ thủ công nghiệp, thương nghiệp trong thị xã học tập đướng lối, chủ trương cải tạo của Đảng, một số nhà tư sản tuy vốn không lớn nhưng đã tình nguyện đem toàn bộ tài sản tham gia công tư hợp doanh như Tô Vĩnh, Phạm Hổ, Trần Vượng, Đắc Xuyến tham gia công tư hợp doanh ngành thuốc tây; Đông Sơn, Nguyễn Thành, Thuận Thành tham gia công tư hợp doanh ngành thuốc bắc. Các gia đình làm nghề thủ công cũng hăng hái tham gia các hợp tác xã. Toàn bộ thị xã thành lập được 115 tổ buôn bán, trong đó có hơn 10 tổ theo hình thức bán chung và hai tổ ủy thác bán hàng cho mậu dịch. Được sự giúp đỡ của mậu dịch, các tổ dần đi vào ổn định, nề nếp và xây dựng được quỹ tích lũy.

Về sản xuất nông nghiệp, thị xã có 83 hộ làm nông nghiệp, diện tích ít, nằm rải rác cách thị xã chừng 4-5 km. So với vùng nông thôn, phong trào xây dựng tổ đổi công còn yếu. Toàn thị xã thành lập được 5 tổ đổi công có 39 hộ tham gia. Cùng với nhiệm vụ khôi phục, cải tạo kinh tế, công tác văn hóa-xã hội giai đoạn này cũng được chi bộ Đảng và chính quyền khu phố quan tâm. Hoạt động nổi bật là phong trào bình dân học vụ ở thị xã phát triển mạnh, phong trào đã lôi cuốn mọi lứa tuổi tham gia. Với phong trào trên, đến tháng 8/1958 thị xã Vĩnh Yên đã thanh toán xong nạn mù chữ cho 634 người. Thành tích trên được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho thị xã vì có thành tích xuất sắc trong phong trào bình dân học vụ.

Về giáo dục phổ thông: Mặc dù phải trải qua chiến tranh, nhưng được sự quan tâm của trên, hoạt động học tập ở các nhà trường phổ thông trong thị xã tiếp tục được duy trì kể cả trường công và trường tư. Năm học 1957-1958, trường cấp hai Tô Hiệu có 15 lớp với 674 học sinh. Năm 1958-1959 tăng lên 18 lớp với 826 học sinh. Trường phổ thông cấp I, trường tư thục cũng có bước phát triển mới. Số lượng trường lớp ngày một tăng, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em thị xã và các địa phương trong toàn tỉnh. Phong trào học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội bắt đầu được các nhà trường áp dụng.

Công tác vệ sinh phòng bệnh cho nhân dân thị xã cũng có nhiều tiến bộ. Phòng y tế thị xã tuy còn nhiều khó khăn nhưng đã tổ chức khám bệnh cho 13.552 lượt người, phát thuốc cho 4.443 lượt người. Phong trào vệ sinh phòng bệnh trong các cơ quan, đơn vị, khu phố được quan tâm hơn.

Trong khi cán bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên đang tập trung cao độ cho nhiệm vụ cải tạo các thành phần kinh tế trong khu vực thị xã theo hướng xã hội chủ nghĩa thì ngày 28/11/1959, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Quyết định sáp nhập 3 xã Tích Sơn, Định Trung, Hạnh Phúc thuộc huyện Tam Dương vào thị xã Vĩnh Yên. Sau khi sáp nhập, thị xã Vĩnh Yên có 8 chi bộ với tổng số 237 đảng viên, trong đó đảng viên nông thôn là 148 đồng chí, đảng viên khu phố 10 đồng chí, đảng viên thoát ly là 78 đồng chí. Mỗi chi bộ phụ trách một đơn vị:

- Chi bộ xã Hạnh Phúc 53 đảng viên

- Chi bộ xã Định Trung 42 đảng viên

- Chi bộ xã Tích Sơn 33 đảng viên

- Chi bộ Lam Sơn 6 đảng viên

- Chi bộ Đống Đa 14 đảng viên

- Chi bộ cơ quan dân chính Đảng 42 đảng viên

- Chi bộ Thương nghiệp 37 đảng viên

Về hành chính, thị xã có 34 thôn, xóm và khu phố với 3.662 hộ phân bổ theo các khu vực: Nông nghiệp 2.815 hộ, thủ công nghiệp 251 hộ, tiểu thương buôn bán nhỏ lẻ 452 hộ, lao động khác 103 hộ, tiểu chủ và tiểu thương 29 hộ, tư sản dân tộc 12 hộ và 22 hộ địa chủ.

Về diện tích, thị xã sau khi sáp nhập 3 xã là 24 km2, trong đó ruộng đất cày cấy và trồng trọt 2.842 mẫu 5 sào 3 thước; diện tích ao đầm là 31 mẫu 9 sào, diện tích thổ cư là 453 mẫu 3 sào; diện tích còn lại là đồi trọc, đường giao thông và đất hoang chưa sử dụng.

Để kiện toàn tổ chức Đảng của thị xã, sau khi sáp nhập thêm 3 đơn vị mới đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khôi phục và cải tạo kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa và chuẩn bị những tiền đề để thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm. Được sự nhất của Tỉnh ủy, từ ngày 27/4 đến ngày 30/4/1960 Đảng bộ thị xã đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất tại ngân hàng thị xã. Về dự Đại hội có 49 đại biểu thay mặt cho 237 đảng viên trong Đảng bộ. Đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy về dự và chỉ đạo Đại hội. Trong diễn văn khai mạc Đại hội đã xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của toàn Đảng bộ trong thời gian tới là hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh.

Bản Đề án công tác của Đảng bộ thị xã thông qua Đại hội đã xác định trong năm 1960 thị xã phấn đấu đưa 100% số hộ và số lao động vào làm ăn tập thể. Cùng với cải tạo, cần giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu, tiền vốn, thị trường, giá cả để khuyến khích sản xuất. Phát triển thủ công nghiệp, tăng nguồn thu cho xã viên và cho ngân sách nhà nước.

Đối với người buôn bán nhỏ vận động 50% số hộ chuyển sang trực tiếp sản xuất, còn lại 50% số hộ vừa buôn bán, vừa sản xuất (trong đó 20% chuyên buôn bán).

Phấn đấu cuối năm 1960 đưa 80-85% nông dân vào HTX bậc cao. Bản Đề án còn nêu rõ: Đi đôi với cải tạo quan hệ sản xuất, phải ra sức phát triển lực lượng sản xuất, làm cho nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đi lên đồng đều, phục vụ đắc lực cho sản xuất và đời sống nhân dân.

Bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, bản Đề án còn xác định nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển văn hóa, giáo dục, xã hội, xây dựng dân quân tự vệ. Đồng thời còn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm làm cho tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân giác ngộ xã hội chủ nghĩa, đoàn kết nhất trí, phấn khởi hăng say lao động, công tác để hoàn thành nhiệm vụ đề ra.

Riêng công tác xây dựng Đảng, bản Đề án khẳng định: “Đảng bộ là người lãnh đạo, tổ chức trong tất cả mọi vấn đề, Đảng có vững mạnh hay không, đảng viên có tốt hay không đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào, cho nên vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải quan tâm đầy đủ đến việc xây dựng Đảng và giáo dục đảng viên”. Về nhiệm vụ cụ thể, Đảng bộ xác định phải tập trung sự lãnh đạo tập thể của cấp ủy Đảng, kiện toàn tổ chức cán bộ, tích cực phát triển Đảng, đảm bảo cho mỗi xóm, mỗi HTX, mỗi cơ quan có một tổ chức Đảng. Trong tác phong làm việc cần sâu sát, coi trọng thực tế, chống mọi biểu hiện của tư tưởng phong kiến, tư sản và tiểu tư sản, tư tưởng bè phái, hẹp hòi. Kiên quyết quét sách chủ nghĩa cá nhân, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn tác dụng.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ thị xã khóa I gồm 11 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí. Đồng chí Lưu Văn Sơn được bầu làm Bí thư. Đại hội bầu 5 đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ hai.

Sau một năm triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ nhất, kết thúc năm 1960 toàn thị xã đã xây dựng được 26 cơ sở HTX nông nghiệp gồm 1.554 hộ, chiếm tỉ lệ 95,51% số hộ nông dân. Số HTX được phân bố như sau:

- Xã Hạnh Phúc 9 HTX có 529 hộ, đạt 95,31%.

- Xã Định Trung 6 HTX có 333 hộ, đạt 98,52%.

- Khu Lam Sơn 2 HTX có 135 hộ, đạt 93,75%.

- Khu Đống Đa 4 HTX có 197 hộ, đạt 94,51%.

- Khu Ngô Quyền 1 HTX có 17 hộ, đạt 80,05%.

Trong đó có hai HTX bậc cao là HTX Đoàn Kết, Định Trung và HTX Mậu Lâm, Hạnh Phúc. HTX có quy mô lớn nhất là HTX xóm Tiếc, xã Tích Sơn gồm 140 hộ. HTX nhỏ nhất là HTX Đạo Hoằng, xã Hạnh Phúc có 17 hộ.

Về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp: Năm 1960 diện tích gieo cấy hai vụ là 3.198 mẫu, tăng 61 mẫu so với năm 1959, bằng 102,27%. Tổng sản lượng lúa hai vụ đạt 2.105.430 kg, bình quân đầu người nông nghiệp đạt 164 kg/năm.

Phong trào trồng cây gây rừng cũng đạt được một số kết quả. Toàn thị xã đã ươm được 3 vườn cây giống với trên 2 vạn cây. Trồng 4.280 cây dọc đường quốc lộ số 2 và quanh hồ Cầu Phao.

Công tác cải tạo và phát triển thủ công nghiệp toàn thị xã đã vận động được 1.086 người làm ngành nghề tham gia HTX, đạt 96%. Nhiều HTX có thu nhập khá như xã viên HTX xe đạp có tháng đạt 70 đồng/người.

Về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh: 100% các hộ tư sản đã tham gia công tư hợp doanh và tham gia các HTX. Phương pháp cải tạo hòa bình đã động viên giai cấp tư sản tự nguyện góp vốn và chuyên môn để sản xuất, kinh doanh phục vụ xã hội.

Cùng với nhiệm vụ cải tạo các thành phần kinh tế theo hướng XHCN, Đảng bộ thị xã đã giành 53% ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực văn hóa, xã hội và y tế.

Về giáo dục: Được sự quan tâm của cấp trên cùng với sự đóng góp của nhân dân, hệ thống giáo dục phổ thông Vĩnh Yên có bước phát triển mới. Năm 1960 cấp I có 30 lớp với 1.474 học sinh, so với kế hoạch tăng 3 lớp đạt 111%, học sinh tăng 134 em đạt 110%. So với năm 1959, số lớp năm 1960 tăng 30%, số học sinh tăng 36%. Học sinh cấp II có 11 lớp với 596 học sinh so với kế hoạch số lớp tăng 1 lớp, bằng 110%, học sinh tăng 50, bằng 109%. So với năm 1953 số lớp tăng 10%, số học sinh tăng 18%.

Về văn hóa: Đi đôi với việc nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân, Đảng bộ và chính quyền thị xã còn quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. Phong trào đọc sách báo, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim phục vụ nhân dân được tổ chức trong các ngày lễ, tết đã góp phần làm cho đời sống tinh thần của người dân ngày một nâng cao.

Về Y tế: Nổi bật của giai đoạn này ở Vĩnh Yên là cuộc vận động thực hiện vệ sinh phòng bệnh ở tất cả các xã, khu phố trong thị xã. Nhờ phong trào trên thị xã Vĩnh Yên đã ngăn chặn được một số dịch bệnh phát sinh như dịch cúm, ho gà và kiết lỵ… cơ sở khám chữa bệnh và đội ngũ cán bộ làm y tế cũng được tăng cường. Tính đến hết năm 1960, phòng y tế thị xã đã có 7 y sỹ, 2 y tá, 1 hộ sinh và 2 hộ lý. Đội ngũ cán bộ y tế xã có 17 y tá, 8 hộ sinh. Trong năm 1960, thị xã đã xây dựng thêm một trạm xá dân lập ở xã Hạnh Phúc. Các hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân đều tăng so với trước. Sau một năm triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã, công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng cũng được nâng lên một bước đáng kể, góp phần quyết định vào việc hoàn thành nhiệm vụ cải tạo các thành phần kinh tế theo hướng XHCN ở thị xã Vĩnh Yên.

Về công tác xây dựng Đảng, trước hết là Đảng bộ quan tâm bồi dưỡng tư tưởng, nhận thức cho đảng viên như: Tổ chức cho các cán bộ, đảng viên học tập các quan điểm cơ bản của Đảng về cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH và nhiệm vụ chuyên chính vô sản. Mỗi cán bộ, đảng viên phải có sổ tu dưỡng ghi chép nội dung học tập chính trị, kế hoạch tu dưỡng, công tác hàng tháng và phải báo cáo trước chi bộ trong mỗi buổi sinh hoạt, để chi bộ đóng góp ý kiến bổ sung. Do đó ý thức kỷ luật, việc chấp hành quy định Điều lệ Đảng của mỗi đảng viên được nâng cao.

Về tổ chức: Sau khi nhập thêm các đơn vị mới, số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng trong thị xã được tăng lên. Toàn Đảng bộ thị xã năm 1960 có 8 chi bộ với 237 đảng viên. Đến tháng 10/1960, chi bộ Hạnh Phúc lại tách ra làm 4 chi bộ và thành lập Đảng ủy bộ phận.

Thực hiện Chỉ thị 169-CT/TW ngày 6/11/1959 của Bộ Chính trị về đợt phát triển đảng viên “Lớp 6-1”, chào mừng 30 năm ngày thành lập Đảng. Sau một năm triển khai, Đảng bộ thị xã đã kết nạp 49 đảng viên, trong đó có 13 là nữ.

Bên cạnh thành tích trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ thị xã vẫn còn những hạn chế, yếu kém như: Trình độ đội ngũ cán bộ đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới đặt ra, biểu hiện là trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ còn thấp, ý thức tổ chức của một số cán bộ đảng viên chưa cao, cá biệt còn có đảng viên vi phạm quy định Điều lệ Đảng phải xử lý khai trừ 2 đồng chí. Công tác phát triển đảng viên mới chưa đồng đều ở các cơ sở. Những hạn chế trên được Đảng bộ thị xã chỉ đạo các chi bộ nghiêm khắc kiểm điểm và đề ra phương hướng biện pháp để khắc phục.

Trong nhiệm vụ cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế còn có tư tưởng nóng vội dẫn đến việc làm gò ép nông dân và thợ thủ công vào HTX, vi phạm nguyên tắc tự nguyện mà Đảng đề ra. Mặt khác, chưa kết hợp hài hòa giữa cải tạo quan hệ sản xuất với đẩy mạnh phát triển sản xuất. Do đó, phong trào HTX phát triển lên cao nhưng việc cải tiến kỹ thuật, cải tiến công cụ còn chậm dẫn tới phát triển sản xuất chưa mạnh.

Từ thực tiễn lãnh đạo ở địa phương, Thị ủy Vĩnh Yên đã rút ra kinh nghiệm bước đầu trong quá trình chỉ đạo đó là:

1. Quán triệt nhiệm vụ, tập trung lãnh đạo công tác chính để giành thắng lợi.

2. Phát huy năng lực lãnh đạo tập thể, nâng cao tinh thần chủ động sáng tạo của mỗi cấp, mỗi người, là một nguyên tắc trong lãnh đạo.

3. Nắm vững công tác trọng tâm nhưng phải kết hợp chặt chẽ với các công tác khác.

4. Tăng cường đi cơ sở, kiểm tra thực tế, giúp đỡ cụ thể là một phương pháp công tác đạt hiệu quả cao.

Công tác chính quyền và các đoàn thể quần chúng cũng nhanh chóng được kiện toàn từ thị xã đến các cơ sở như các ban hành chính, các ủy ban hành chính xã và các ngành như thông tin, thống kê, công an, xã đội… Hoạt động nổi bật của chính quyền trong những năm này là vận động nhân dân thực hành tiết kiệm, cứu đói, quản lý và cải tạo nghề ngay tại địa phương đạt kết quả tốt.

Mặt trận Tổ quốc được củng cố vững chắc, làm tốt công tác vận động các thành viên thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Chính phủ như thực hiện nhiệm vụ cải tạo XHCN, bầu cử Quốc hội… Đoàn thanh niên là lực lượng xung kích đi đầu trong các hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương. Được sự chỉ đạo của Thị ủy, Đoàn thanh niên thị xã được học tập về đường lối trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. Qua học tập, hầu hết Đoàn thanh niên đã có sự chuyển biến về nhận thức. Hàng trăm thanh niên thị xã đã tình nguyện đăng ký nghĩa vụ quân sự và tham gia công tác giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương.

Hội Phụ nữ cũng có nhiều hoạt động tích cực như vận động gia đình vào HTX, đặc biệt là phụ nữ thị xã còn tích cực tham gia cuộc vận động lao động XHCN để lấy tiền ủng hộ xây dựng nhà máy dệt 8-3. Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp mới quy định quyền bình đẳng của phụ nữ và luật hôn nhân gia đình. Đây là cơ sở pháp lý để phụ nữ Vĩnh Yên có điều kiện vươn lên, cống hiến và đóng góp nhiều hơn cho quá trình xây dựng quê hương, đất nước.

Với những thắng lợi trong khôi phục và cải tạo các thành phần kinh tế theo hướng XHCN ở địa phương đã tạo ra sự chuyển biến quan trọng về mặt xã hội. Đó là quan hệ sản xuất mới XHCN được hình thành, bước đầu đã phát huy tác dụng thúc đẩy kinh tế, văn hóa xã hội ngày một phát triển. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước. Lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ ngày càng được củng cố. Những kết quả trên đã tạo nên động lực chính trị quan trọng, là những tiền đề cần thiết để Đảng bộ và nhân dân thị xã bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra.

 

Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thành phố


([1]) (2) Những sự kiện lịch sử Đảng tập IV, 1954-1875, NxbThông tin lý luận HN 1982, tr12.

 

Các tin đã đưa ngày: