Đảng bộ lãnh đạo nhân dân đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, tập trung sản xuất chi viện cho chiến trường miền Nam (1965-1968)

21/08/2017

1. Tích cực sản xuất, chiến đấu góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)

Sau sự kiện ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ tiếp tục cho máy bay bắn phá một số địa phương thuộc miền Bắc nước ta với mức độ ngày càng tăng. Trước tình hình nghiêm trọng đó, tháng 3/1965 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp hội nghị lần thứ 11 ra Nghị quyết về “Tình hình nhiệm vụ cấp bách trước mắt”. Nghị quyết đã chỉ rõ âm mưu và hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ đã làm cho nước ta từ chỗ nửa nước có chiến tranh, nửa nước có hòa bình nay trở thành cả nước có chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh này, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn.

Về nhiệm vụ nghị quyết xác định: Tiếp tục xây dựng CNXH ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của địch. Nhiệm vụ cụ thể là kịp thời chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển của tình hình, tăng cường công tác phòng thủ bảo vệ miền Bắc, ra sức chi viện cho miền Nam và cùng với chuyển hướng nền kinh tế, tăng cường quốc phòng cho miền Bắc, cần kịp thời chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.

Đối với Vĩnh Phúc, sau khi trinh sát nhiều lần, ngày 11/7/1965 máy bay Mỹ đã tiến hành bắn phá trạm Ra đa trên núi Tam Đảo. Đến ngày 19/7/1965, chúng lại tiếp tục đánh phá mục tiêu này. Sự kiện trên được coi là mốc mở đầu về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với tỉnh Vĩnh Phúc.

Thực hiện nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ra nhiều văn bản chỉ đạo về công tác phòng tránh, đặc biệt sau sự kiện ngày 11/7/1965 Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 53-NQ/TU về tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng không sơ tán. Nghị quyết chỉ rõ những nơi phải sơ tán là các thị xã, kho tàng nhà nước, nhân dân sống gần các mục tiêu có thể bị địch đánh phá như cầu, phà, kho tàng, đơn vị quân đội… Nghị quyết còn chỉ đạo công tác quân sự cần tập trung 3 vấn đề lớn là: Phòng tránh sơ tán; huấn luyện dân quân, tự vệ; sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy, Thị ủy Vĩnh Yên đã có nhiều nghị quyết về công tác phòng không, trong đó có nghị quyết về “Một số công tác quân sự trị an trong tình hình mới” đã nêu lên 5 nhiệm vụ cụ thể của thị xã là:

1-    Làm tốt công tác giáo dục chính trị trong nhân dân.

2- Làm tốt công tác phòng không nhân dân, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của địch.

3- Tăng cường công tác chống chiến tranh tâm lý.

4- Tăng cường công tác phòng thủ chiến đấu bảo vệ trị an.

5- Lãnh đạo công tác động viên tuyển binh.

Để thực hiện tốt nghị quyết trên, Ban Thường vụ ra nghị quyết phân công từng đồng chí cấp ủy phụ trách từng mặt công tác. Do đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã làm cho nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, công tác phòng tránh sơ tán được các chi bộ Đảng xác định là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt và làm tốt công tác này. Do làm tốt công tác tuyên truyền vận động mà ngay sau khi triển khai, những hộ sản xuất nông nghiệp, các gia đình làm nghề thủ công cùng người già và trẻ em đã nhanh chóng sơ tán ra khỏi khu vực nội thị. Tính đến năm 1966, nội thị Vĩnh Yên có 688 hộ với 2.911 nhân khẩu, chiếm 52,2% dân số nội thị đi sơ tán. Năm 1967 thời gian cao điểm của chiến tranh phá hoại có 6.533 người được sơ tán khỏi thị xã. Các nhà trường cũng được sơ tán ra khỏi nội thị để đảm bảo an toàn. Lực lượng trẻ, khỏe ở lại thị xã để duy trì các hoạt động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu được thực hiện một cách nghiêm ngặt. Nếp sống quân sự thời chiến được quy định như: Không được hội họp vào những giờ cao điểm, nhiều hoạt động được chuyển về ban đêm. Nhiều trạm cảnh giới báo động phòng không được xây dựng để kịp thời phát tín hiệu cho nhân dân phòng tránh. Công tác tuần tra canh gác vào ban đêm được lực lượng dân quân, tự vệ kết hợp với lực lượng công an duy trì chặt chẽ. Công tác bảo vệ trị an, phòng gian, bảo mật theo tinh thần Nghị quyết 39 của Trung ương và Nghị quyết 55 của Tỉnh ủy được thị xã triển khai thực hiện tốt.

Để giảm bớt thiệt hại khi địch có thể đánh phá vào thị xã, cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành, các cơ quan, xí nghiệp, trường học đã động viên cán bộ và nhân dân tích cực, khẩn trương xây dựng hệ thống hầm hào phòng tránh ở tất cả các nơi công cộng trong thị xã như trường học, đường giao thông, trong từng cơ quan và các gia đình. Chỉ sau một thời gian triển khai công tác xây dựng hầm hào phòng tránh, thị xã Vĩnh Yên đã có một số lượng lớn hầm hào được xây dựng đảm bảo tốt cho công tác phòng tránh.

- Hầm trú ẩn trong nhà có 2.710 chiếc, ngoài nhà có 4.551 chiếc.

- Hầm cá nhân ngoài đồng, ven đường quốc lộ có 63.782 chiếc.

- Hầm cất dấu tài sản có 1.836 chiếc.

- Hầm tránh cho gia súc có 369 chiếc.

- Giao thông hào có 396.306 mét.

Từ cơ quan đến các địa phương trong thị xã đều xây dựng các tổ chức cứu thương, cứu hỏa, cứu hầm bị sập… và được luyện tập các phương án, tình huống có thể xảy ra. Cơ quan y tế từ thị xã đến cơ sở phải thường trực 24/24 giờ trong ngày. Do chủ động làm tốt công tác phòng tránh nên khi địch đánh vào thị xã đã hạn chế được nhiều thiệt hại. Ngày 8/12/1966 địch bắt đầu đánh phá thị xã Vĩnh Yên làm cháy hàng chục ngôi nhà, làm chết một người, bị thương 20 người. Sau trận đánh phá của địch đã để lại nhiều kinh nghiệm cho các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân làm tốt hơn trong công tác phòng tránh.

Từ tháng 5 đến tháng 7/1967 là thời điểm địch đánh phá ác liệt nhất đối với thị xã Vĩnh Yên, với 6 trận địch đã ném 206 quả bom phá và 10 thùng bom bi làm chết 19 người, bị thương 12 người, 198 nhà bị cháy, thiệt hại 1.640 kg thóc, 17 con trâu bò và 21 con lợn.

Để chủ động đánh địch trong mọi tình huống, ngày 1/4/1966 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra nghị quyết: “Về một số nhiệm vụ chính về công tác quân sự địa phương trong thời gian tới”, trong đó nghị quyết chỉ rõ: “Phát động toàn Đảng, toàn dân tích cực tham gia xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh lớn mạnh”. Thực hiện nghị quyết trên, bên cạnh công tác phòng tránh, Thị ủy Vĩnh Yên đã quan tâm đến công tác xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ của thị xã ngày càng lớn mạnh. Với quan điểm chỉ đạo xây dựng dân quân, tự vệ phải chặt chẽ về tổ chức, trong sạch về chính trị, vững vàng về tư tưởng và lấy việc củng cố về chất lượng là chính. Thực hiện quan điểm trên, tính đến năm 1967 thị xã Vĩnh Yên phát triển 459 dân quân, tự vệ, trong đó nữ chiếm 68,7%; nâng tỉ lệ dân quân, tự vệ lên 13,1% so với dân số của thị xã. Riêng khối cơ quan, xí nghiệp đạt 91% số cán bộ tham gia tự vệ. Lực lượng dân quân, tự vệ ở các đơn vị đều do các cấp ủy trực tiếp phụ trách và được luyện tập các phương án đánh địch như bắn máy bay bay thấp, đánh địch đổ bộ đường không, bắt giặc lái… Qua kiểm tra về kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu, thị xã có 9 đơn vị đạt loại giỏi là Đống Đa, Lam Sơn, Tích Sơn, Liên Bảo, Liên Minh, Bảo Sơn, Xưởng cơ khí tổng hợp, Xưởng mộc, Thực phẩm; 6 đơn vị đạt loại khá và 4 đơn vị đạt yêu cầu, không có đơn vị yếu. Phong trào thi đua giành danh hiệu đơn vị quyết thắng, chiến sỹ quyết thắng được tất cả các cơ quan đơn vị đăng ký thi đua. Kết quả các đơn vị của thị xã Vĩnh Yên được cấp trên xếp loại như sau:

- Xếp loại giỏi có 4 đơn vị là: Tích Sơn, Lam Sơn, Cửa hàng ăn, Thực phẩm Cầu Oai.

- Xếp loại khá có 5 đơn vị là: Đống Đa, Liên Bảo, Ủy ban hành chính thị xã, Xưởng mộc, Bách hóa.

- Đạt yêu cầu có 9 đơn vị là: Ngô Quyền, Vĩnh Thịnh, Quyết Tiến, Trường cấp I, cấp II, Chi nhánh điện, Thực phẩm rau quả, Nhà máy cơ khí, B7.

- Đơn vị không đạt yêu cầu là Vật liệu kiến thiết.

Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, dân quân, tự vệ thực sự là lực lượng nòng cốt trong sản xuất và chiến đấu ở địa phương. Tính đến năm 1966, lực lượng dân quân, tự vệ đã đào 6.737 m3 đất đá để xây dựng 27 trận địa chính và phụ, đảm bảo cho các tổ trực chiến sẵn sàng chiến đấu bắn trả máy bay địch. Dân quân, tự vệ thị xã Vĩnh Yên đã nhiều lần nổ súng bắn máy bay địch khi chúng xâm phạm vùng trời thị xã. Đặc biệt ngày 24/4/1966 dân quân, tự vệ thị xã Vĩnh Yên đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực phòng không tạo điều kiện để bộ đội bắn rơi 2 máy bay Mỹ trên địa bàn tỉnh.

Đơn vị dân quân Lam Sơn được đánh giá là đơn vị có tinh thần sẵn sàng chiến đấu tốt. Ngoài việc sẵn sàng chiến đấu, bắn máy bay địch, đơn vị còn có tổ công binh lặn lội ngày đêm ở những khu vực có bom nổ chậm để tháo gỡ. Đặc biệt trong những ngày tháng 9/1967, địch đã ném bom xuống ga Vĩnh Yên một loại bom nổ chậm được lắp kíp nổ loại mới rất nguy hiểm. Đồng chí Lê Xuân Ngọc đại đội trưởng dân quân đã xung phong phá bom thành công, bảo vệ được nhà ga và đường sắt. Với thành tích trên, đồng chí Ngọc được vinh dự kết nạp vào Đảng và được Quân khu khen ngợi, được tặng huy hiệu vẻ vang “Chiến sỹ 5-8”; Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Cùng với việc xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và bộ đội địa phương, trên địa bàn thị xã luôn luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu đánh địch tại chỗ để bảo vệ quê hương trong mọi tình huống, Thị ủy Vĩnh Yên còn làm tốt công tác tư tưởng, công tác giáo dục đường lối chiến tranh nhân dân đối với cán bộ và nhân dân, nhất là tổ chức đợt học tập lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Hồ Chủ tịch ngày 17/7/1966 với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Do làm tốt công tác giáo dục, động viên nên công tác động viên tuyển quân trong những năm qua của thị xã đã vượt 15% về số lượng so với yêu cầu của cấp trên đề ra. Đảng viên, đoàn viên chiếm tỉ lệ cao trong các đợt tuyển quân. Riêng năm 1967, Vĩnh Yên đã động viên 3 đợt tuyển quân với tổng số là 133 đồng chí, trong đó đảng viên chiếm 18%, đoàn viên chiếm 68%, phục viên, xuất ngũ 4%. Hầu hết quân nhập ngũ của thị xã đều đã phát huy tốt truyền thống cách mạng của quê hương và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều người đã trưởng thành trong chiến đấu là những sỹ quan trong quân đội.

Đi đôi với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Đảng bộ thị xã đã lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất, tận dụng mọi điều kiện để giữ vững và phát triển kinh tế nhằm ổn định đời sống nhân dân và hoàn thành nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước. Căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế do Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra, Thị ủy Vĩnh Yên đã đề ra phương hướng sản xuất nông nghiệp của thị xã là: Giải quyết tốt vấn đề lương thực, coi trọng cả lúa và hoa màu, đặc biệt phải chú ý phát triển mạnh rau xanh, đồng thời coi trọng chăn nuôi gia súc, tiếp tục phát triển nuôi cá, phát triển một số cây công nghiệp, phục vụ cho thâm canh và trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả. Nâng cao một bước đời sống nhân dân.

Quá trình thực hiện phương hướng trên trong điều kiện chiến tranh ác liệt, số lao động trẻ, khỏe phần lớn được huy động lên đường đi chiến đấu, đi thanh niên xung phong, ở lại hậu phương phần đông là người già và phụ nữ, thiên tai thường xuyên xảy ra. Song, với quyết tâm phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân năm 1966 thị xã vẫn đạt được kết quả khá trên tất cả các mặt sản xuất và chiến đấu.

Tổng diện tích gieo trồng năm 1966 đạt 2.884 mẫu, tăng 10% so với năm 1963, so với kế hoạch tỉnh giao vượt 1,3%. Năng suất lúa bình quân đạt 4,3 tấn/ha. Đàn trâu, bò đều tăng, riêng lợn tăng 42% so với năm 1963.

Về sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, mặc dù điều kiện sơ tán phải phân tán cơ sở sản xuất, vật tư, nguyên liệu khó khăn, nhưng với sự cố gắng của bà con xã viên, cán bộ và công nhân, nên tổng giá trị sản lượng năm 1966 vẫn đạt 103,1% so với kế hoạch, so với năm 1963 tăng 71%. Điều có ý nghĩa quan trọng là ngành công nghiệp và thủ công nghiệp đã tạo ra những mặt hàng phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp và giao thông vận tải. Năm 1966 so với năm 1963, giá trị sản lượng các tư liệu phục vụ nông nghiệp tăng 622% và giao thông vận tải tăng 114%.

Từ tháng 7/1965 khi có lệnh triệt để sơ tán khu vực trọng tâm là thị xã, hầu hết các xí nghiệp, cửa hàng thương nghiệp phải phân tán ra ngoài thị xã đã ảnh hưởng lớn đến việc kinh doanh và dịch vụ. Nhưng với quyết tâm của Đảng bộ, các chi bộ đã lãnh đạo tốt việc sơ tán và mau chóng ổn định nơi kinh doanh, nhờ vậy hoạt động kinh doanh vẫn được duy trì và đạt kết quả tốt. Thực phẩm mua vào so với kế hoạch đạt gần 90%. Nhưng riêng hai mặt hàng chủ yếu là lợn và rau vượt 8%. Năm 1966, thực phẩm mua vào 830 tấn, bán ra vượt kế hoạch 48% so với năm 1963. Trong hoàn cảnh sơ tán, đạt được kết quả trên là một sự cố gắng lớn của ngành thương nghiệp thị xã.

Để phục vụ kịp thời sản xuất của nhân dân, nhất là các HTX nông nghiệp, sau khi các xí nghiệp quốc doanh rời khỏi thị xã, Đảng bộ đã chủ trương thành lập xí nghiệp tổng hợp thị xã, các HTX mua bán ở các HTX nông nghiệp và cử một đồng chí Thị ủy viên phụ trách. Xí nghiệp tổng hợp và HTX mua bán giá trị mua vào và bán ra còn thấp, năm 1966 mua vào 610.000 đồng và bán ra 396.000 đồng. Tuy vậy trong hoàn cảnh chiến tranh việc làm trên đã có tác dụng tốt trong quản lý, phân phối, điều tiết cho sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân, phục vụ chiến đấu ở địa phương.

Bên cạnh việc phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng từng bước được củng cố và hoàn thiện. Thông qua các cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh của đội ngũ cán bộ HTX được nâng lên một bước, góp phần làm cho sản xuất nông nghiệp ngày một phát triển toàn diện vững chắc.

Ngày 10/9/1966, Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 68-NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong Hợp tác xã hiện nay”. Nghị quyết có hai phần:

- Phần một nói về vị trí, khả năng lao động nông nghiệp của tỉnh trong tình hình hiện nay.

- Phần hai đề ra phương hướng nhiệm vụ, phương pháp quản lý lao động nông nghiệp trong hai năm 1966-1967.

Nghị quyết 68-NQ/TU đã nhấn mạnh vấn đề quản lý lao động vì:

Lao động là một trong ba điều kiện cơ bản để tiến hành sản xuất, là vốn quý không thể thiếu được. Điều kiện cơ bản nhất để tăng năng suất lao động là con người lao động có kỹ thuật, sử dụng được thông thạo công cụ sản xuất tiên tiến, có giác ngộ cách mạng, làm việc với thái độ lao động mới là: Lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc Mỹ xâm lược sâu sắc, vì đời sống, vì tập thể xã hội chủ nghĩa, có tinh thần chủ động khắc phục thiên nhiên”. Từ cách đặt vấn đề như vậy, nghị quyết nêu hai nhiệm vụ lớn bao trùm là: “Phải tạo mọi điều kiện huy động, sử dụng được hết và tốt mọi lao động hiện có; phải dùng mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, bảo đảm nhiệm vụ trọng tâm chính trị là sản xuất và chiến đấu”. Nghị quyết nêu 6 nhiệm vụ cụ thể, đồng thời cũng là 6 biện pháp để các HTX, các cấp, các ngành thực hiện: “Kiên quyết thực hiện bằng được, đúng và tốt chế độ 3 khoán, khoán việc cho nhóm, cho lao động và cho hộ, bảo đảm sử dụng hợp lý sức lao động và tăng năng suất lao động”.

Là một thị xã tỉnh lỵ số lượng HTX nông nghiệp không nhiều, quy mô không lớn, nhưng quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TU đã đạt được kết quả nhất định. Tình hình sản xuất có chiều hướng phát triển hơn trước. Song, quá trình thực hiện, bài học được rút ra là cần tính toán các định mức, chỉ tiêu, kỹ thuật phù hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa động viên kích thích được người sản xuất.

Công tác phát triển đảng viên mới được Đảng bộ thường xuyên quan tâm. Chỉ tính đến năm 1966, Đảng bộ đã phát triển được 73 đồng chí, trong đó có 41 nam và 32 nữ, khu phố có 18 đồng chí.

Công tác xây dựng chi bộ “4 tốt” bước đầu đã có sự gắn kết giữa công tác trọng tâm và công tác thường xuyên, bước đầu đã thu hút được kết quả khá. Toàn Đảng bộ có 11/25 chi bộ đạt tiêu chuẩn “4 tốt”, chi bộ khá có 11/25, chi bộ trung bình khá có 3/25, không có chi bộ kém.

Tỷ lệ đảng viên “4 tốt” năm 1966 chiếm 65%, khá chiếm 23,9%, trung bình chiếm 9,8%, kém chiếm 1,1%. So với năm 1963, đảng viên khá và “4 tốt” tăng 23,9%, tỷ lệ đảng viên kém từ 3% của năm 1963 giảm xuống 1,1% năm 1966.

Công tác đào tạo bồi dưỡng: Đảng bộ luôn chăm lo đến việc nâng cao trình độ chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Trong năm 1966, Thị ủy đã cử 27 đồng chí đi học các lớp của trường Đảng tỉnh và tổ chức bồi dưỡng cho 100 đảng viên từ tổ trưởng Đảng đến Bí thư chi bộ, chủ nhiệm HTX, Bí thư thanh niên, phụ nữ.

Tháng 5/1967, Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên lần thứ V đã được tổ chức trọng thể, sau hơn 3 năm kể từ Đại hội lần thứ IV (tháng 2/1964). Trong khoảng thời gian giữa hai kỳ Đại hội, tình hình trong nước và trong tỉnh có nhiều diễn biến phức tạp. Đó là tình hình cả nước có chiến tranh. Đặc điểm nổi bật của Vĩnh Yên cũng như các địa phương trong tỉnh và miền Bắc là chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến. Nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, phòng tránh đánh địch đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, là một nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ.

Mặc dù đứng trước những khó khăn và thử thách nhưng phần phương hướng của Đảng bộ vẫn được xác định: “Dù trong hoàn cảnh khó khăn trở ngại thế nào đi nữa, đến cuối năm 1967 Vĩnh Yên phải thực hiện bằng được mục tiêu 5 tấn thóc/ha, 6.000 con lợn, 4.000 con bò, 1.300 tấn rau xanh, 50 mẫu cá”.

Về công tác xây dựng Đảng, phương hướng xác định trong nhiệm kỳ cần tập trung giáo dục đảng viên và đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, không còn yếu kém.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Thị ủy khóa V gồm 15 đồng chí ủy viên chính thức, 2 dự khuyết, bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 7 đồng chí. Đồng chí Lưu Văn Sơn được bầu làm Bí thư. Căn cứ vào Chỉ thị 150 của Ban Bí thư Trung ương và nghị quyết của Hội đồng Chính phủ về bảo vệ tài sản, thực hành tiết kiệm, trên cơ sở nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và thực tiễn địa phương. Ngày 12/10/1967, Ban chấp hành Đảng bộ thị xã đã ra nghị quyết: “Về tăng cường quản lý kinh tế tài chính. Bảo vệ tài sản Nhà nước, của tập thể, của nhân dân. Ra sức thực hành tiết kiệm trong sản xuất, chiến đấu và đời sống”. Nội dung của nghị quyết là tăng cường quản lý kinh tế, tài chính với nội dung chủ yếu là: Quản lý lao động, vật tư, tiền vốn và giá cả. Việc bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể và thực hành tiết kiệm được nghị quyết xác định là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài có tính chiến lược.

Nhiệm vụ cụ thể về quản lý lao động, thị xã xác định là tiếp tục thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TU và ra sức phấn đấu để đạt được mục tiêu là:

- 1 lao động làm 1 ha gieo trồng.

- 1 ha gieo trồng đạt 5 tấn thóc/năm.

- 1 ha 2 con lợn có sản phẩm hàng hóa.

Ngoài việc phân bố lao động phục vụ nông nghiệp, công tác quản lý lao động còn phải sắp xếp lao động cho một số nghề phụ như nghề làm nồi đất được phát triển.

Về quản lý lao động trong khu vực Nhà nước cần đi sâu vào nghiên cứu xây dựng định mức cụ thể cho từng sản phẩm, cho từng lao động nhằm giảm được lượng lao động hao phí, hao phí vật tư trên một đơn vị sản phẩm.

Về quản lý vật tư, trước mắt và cấp bách nhất là quản lý tốt những vật tư chiến lược và vật tư tiêu dùng mà đặc biệt là vấn đề quản lý lương thực.

Về quản lý tiền vốn, cần tập trung quản lý chặt và quy định trách nhiệm quản lý tốt các loại vốn như: Vốn kiến thiết cơ bản, vốn lưu động, quỹ hành chính sự nghiệp, vốn của HTX nông nghiệp, công tác quản lý giá cả có một vị trí quan trọng trong việc quản lý tài chính. Nhiệm vụ của công tác quản lý giá cả nhằm ổn định giá trước mắt là lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng.

Bước vào thực hiện nghị quyết Đảng bộ thị xã lần thứ V và các nghị quyết chuyên đề trong hai năm 1967-1968 nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Thị xã Vĩnh Yên đứng trước những khó khăn không nhỏ về thiên tai địch họa như tháng Giêng năm 1968 địch lại tiếp tục đánh phá ác liệt vào Vĩnh Yên, điển hình là trận đánh vào khu đông dân cư xóm Tiếc, Tích Sơn làm chết và bị thương nhiều người, đánh sập nhà hát, phá hủy nhiều đoạn đường tàu, đường bộ trong khu vực thị xã. Thời tiết hết hạn hán lại đến mưa lũ, làm cho sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại to lớn. Riêng trận mưa tháng 7/1968 đã làm hỏng 126 mẫu lúa, 70 mẫu rau, màu làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Nhưng với tinh thần vượt khó vươn lên, Đảng bộ và nhân dân thị xã vẫn giành được thắng lợi to lớn, toàn diện.

Về sản xuất nông nghiệp: Thành tích nổi bật của Đảng bộ là lãnh đạo nhân dân thực hiện được mục tiêu chủ yếu do Đại hội đề ra như chú ý đến cây trồng thực phẩm và đưa năng suất lúa lên 5 tấn lúa/ha. Trong cơ cấu diện tích, cây thực phẩm năm 1967 chiếm 30,7% đến năm 1968 chiếm 38,8% (trong đó rau chiếm 97,8% diện tích gieo trồng cây thực phẩm). Năng suất lúa năm 1967 đạt bình quân 4 tấn 738 kg/ha, năm 1968 đạt 5 tấn 0,48 kg/ha. Cùng với sản xuất, việc chăn nuôi trâu, bò, lợn, cá và gia cầm phát triển năm sau cao hơn năm trước. Riêng đàn lợn, năm 1968 đạt 3.643 con, tăng 35% so với năm 1967. Cơ sở vật chất của HTX ngày càng được tăng cường. Năm 1967, toàn thị xã có 250 gian chuồng trại chăn nuôi, đến năm 1968 tăng lên 607 gian, trong đó 346 gian được xây dựng bằng gạch ngói. Nhiều HTX được trang bị máy công cụ góp phần đưa năng suất lúa ngày càng cao.

Trong sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp có nhiều tiến bộ mặc dù trong điều kiện vật tư, nguyên liệu thiếu thốn, cơ sở sản xuất phân tán nhỏ lẻ, nhưng với tinh thần cần cù sáng tạo trong lao động, nhà máy cơ khí Vĩnh Phúc năm 1968 đã đạt tổng giá trị sản lượng 115,86%, với nhiều mặt hàng phục vụ nông nghiệp và giao thông vận tải.

Mặc dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt nhưng được sự quan tâm của Đảng bộ thị xã, công tác giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội vẫn được ổn định và có bước phát triển. Đặc biệt là ngành y tế có bước trưởng thành trong việc cấp cứu người bị thương trong chiến tranh.

Bên cạnh những thành tích đạt được trong sản xuất và chiến đấu, công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong hai năm 1967-1968 cũng đạt được kết quả khá. Căn cứ vào phương hướng xây dựng Đảng bộ “4 tốt” của Trung ương và của Tỉnh ủy, trong những năm qua Đảng bộ thị xã đã tập trung chỉ đạo công tác xây dựng Đảng đạt được nhiều kết quả tốt. Trước hết là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ đảng viên thông qua các đợt học tập nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, học tập các nghị quyết chuyên đề của Trung ương và của Tỉnh ủy, các đợt vận động, chỉnh đốn Đảng được Đảng bộ triển khai một cách nghiêm túc. Gần 100% đảng viên thị xã được tham dự các đợt học tập này. Do đó về mặt nhận thức của mỗi đảng viên được nâng cao, những tư tưởng bảo thủ, ngại khó được đẩy lùi, bệnh tham ô, tư lợi được hạn chế. Tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên được nâng lên. Đặc biệt là tính thống nhất trong lãnh đạo được tăng cường hơn lúc nào hết.

Công tác kiểm tra dân chủ kỷ luật trong Đảng cũng được duy trì một cách nghiêm túc, do đó nhận thức về tổ chức, kỷ luật trong Đảng được nâng cao, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở mỗi đảng viên được nâng lên một bước.

Mặc dù vẫn còn có những thiếu sót, khuyết điểm về mặt phương pháp trong quá trình chỉ đạo về công tác xây dựng Đảng, nhưng nhìn chung từ năm 1966-1968 Thị ủy Vĩnh Yên luôn bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh ủy về công tác xây dựng Đảng để triển khai trong Đảng bộ. Thành tích nổi bật là vai trò gương mẫu, tiên phong của đảng viên được phát huy tốt trên tất cả các lĩnh vực sản xuất và chiến đấu. Các tổ chức cơ sở Đảng thực sự là cơ quan lãnh đạo tin cậy, là nhân tố quyết định đến mọi thắng lợi ở địa phương.

Công tác chính quyền cũng được quan tâm củng cố và xây dựng. Điểm nổi bật của công tác xây dựng chính quyền từ năm 1965-1968 ngoài việc kiện toàn, củng cố bộ máy ngày càng chất lượng, hiệu quả còn có phong trào đăng ký xây dựng chính quyền giỏi toàn diện do tỉnh phát động. Tính đến năm 1968, hầu hết chính quyền cơ sở thuộc thị xã đều đạt tiêu chuẩn chính quyền giỏi toàn diện.

Các tổ chức đoàn thể quần chúng cũng được kiện toàn, củng cố, đáp ứng được công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên hăng hái tham gia sản xuất và chiến đấu. Nổi bật là phong trào “3 sẵn sàng” của thanh niên và phong trào “3 đảm đang” của phụ nữ.

Hưởng ứng phong trào “3 sẵn sàng” do Trung ương Đoàn phát động, thanh niên thị xã Vĩnh Yên 100% đã xung phong đăng ký tình nguyện “3 sẵn sàng” (sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ bất cứ ở đâu). Với phong trào trên, thanh niên thị xã Vĩnh Yên thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các hoạt động sản xuất và chiến đấu ở địa phương. Sau 4 năm triển khai phong trào “3 sẵn sàng”, nhiều tổ chức cơ sở đoàn của thị xã được Trung ương Đoàn tặng danh hiệu “3 sẵn sàng” và cờ Nguyễn Văn Trỗi. Cùng với phong trào “3 sẵn sàng”, phụ nữ có phong trào  3 đảm nhiệm” về sau được đổi thành phong trào “3 đảm đang” do Trung ương Hội phát động, đã có nhiều đóng góp vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nội dung của phong trào là:

- Đảm nhiệm sản xuất, công tác thực hành tiết kiệm thay nam giới đi chiến đấu.

- Đảm nhiệm công tác gia đình, động viên chồng con lên đường đi chiến đấu.

- Đảm nhiệm chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở địa phương.

Triển khai cuộc vận động trên, Hội Phụ nữ thị xã Vĩnh Yên đã làm tốt công tác giáo dục động viên đến từng hội viên thông qua học tập nội dung cuộc vận động và học tập các gương phụ nữ anh hùng như Tạ Thị Kiều, Nguyễn Thị Vân, Ngô Thị Tuyển, Trần Thị Lý… chị em phụ nữ Vĩnh Yên vững vàng hơn về tư tưởng, hăng hái tham gia các hoạt động sản xuất và chiến đấu ở địa phương. Trong những năm tháng đánh Mỹ, lực lượng lao động nữ ở Vĩnh Yên chiếm trên 70% vì thanh niên trai tráng lên đường đi đánh Mỹ. Lực lượng lao động nữ đã đảm nhiệm hầu hết các công việc nặng nhọc trong sản xuất. Nhiều chị còn tham gia dân quân, tự vệ, thanh niên xung phong và bộ đội. Qua sản xuất và chiến đấu, nhiều chị trưởng thành và được kết nạp vào Đảng, được Đảng giao giữ những cương vị lãnh đạo ở địa phương. Tổng kết phong trào “3 đảm nhiệm” ở thị xã Vĩnh Yên, hầu hết chị em phụ nữ đạt danh hiệu cao quý này. Nhiều tổ chức cơ sở Hội được Trung ương Hội tặng cờ “3 đảm đang”. Tiêu biểu trong phong trào phụ nữ “3 đảm đang” ở Vĩnh Yên thời kỳ này là chị Tiệp chủ nhiệm HTX Đống Đa là vợ bộ đội đã lãnh đạo HTX 13 năm, trong đó có 7 năm liên tục đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp.

Nhìn chung 4 năm thực hiện nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ. Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên đã vượt lên những khó khăn do thiên tai, địch họa gây ra để đẩy mạnh sản xuất và trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Củng cố tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở thị xã đã thực sự tạo nên sức mạnh mới đưa sự nghiệp xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên quê hương giành thắng lợi.

2. Tranh thủ thời gian ngừng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vào miền Bắc, tích cực xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt (1969-1971)

Năm 1968 đánh dấu sự thắng lợi của quân và dân trên cả hai miền Nam-Bắc. Miền Bắc với tinh thần vừa sản xuất vừa chiến đấu: “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng” đã làm thất bại âm mưu đánh phá của địch, duy trì các hoạt động kinh tế xã hội bình thường trong chiến tranh. Đồng thời còn làm tốt nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam mùa xuân năm 1968 đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Trước những thất bại trên cả hai miền Nam-Bắc đã buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta tại Pari để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam. Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đó của quân và dân cả nước có một phần đóng góp của Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên.

Năm 1968 cũng là năm thực hiện nghị quyết của Quốc hội về hợp nhất tỉnh Vĩnh Phúc với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Tỉnh Vĩnh Phú có diện tích 5.103 km2, gần 1,3 triệu dân, trong đó có 9 vạn đồng bào các dân tộc thiểu số, có 1 thành phố (Việt Trì), 3 thị xã (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ), 18 huyện, 4 thị trấn, 422 xã, là một trong những tỉnh lớn của miền Bắc lúc đó.

Như vậy, sau 4 năm vừa sản xuất vừa trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, miền Bắc tạm thời có hòa bình, một điều kiện thuận lợi để chúng ta khắc phục hậu quả chiến tranh, nhanh chóng ổn định, đẩy mạnh sản xuất, từng bước nâng cao đời sống để động viên tinh thần kháng chiến của nhân dân.

Bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ, Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên lại phải đương đầu với những khó khăn rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp như sâu bệnh, thiên tai liên tiếp xẩy ra, nhất là trận lụt năm 1969 và 1971 đã làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Việc cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu của nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp trên địa bàn thị xã. Để tận dụng những điều kiện thuận lợi mới, Đảng bộ thị xã tập trung lãnh đạo nhân dân thị xã khắc phục mọi khó khăn đã vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày 25/5/1969, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VI. Về dự Đại hội có 79 đại biểu chính thức và 5 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 498 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Sau khi báo cáo tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ trong hai năm (1967-1968), Đại hội đã thông qua phương hướng nhiệm vụ hai năm tiếp theo (1969-1970) với nội dung cụ thể là: “Đảng bộ và nhân dân thị xã phải tập trung lực lượng vào việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất phát triển và củng cố quan hệ sản xuất mới. Ra sức vừa phát triển nông nghiệp toàn diện, chủ yếu là trồng cây thực phẩm và chăn nuôi, vừa phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp. Trong nông nghiệp chuyển mạnh diện tích sản xuất lương thực, sản xuất thực phẩm, nhất là trồng rau và chăn nuôi cá, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh các ngành nghề khác phát triển”.

Đối với công tác xây dựng Đảng, phương hướng nêu rõ: “Phải coi công tác chính trị tư tưởng là nhiệm vụ hàng đầu, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục để nâng cao nhận thức cho đảng viên về tình hình nhiệm vụ, đường lối, chính sách, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tinh thần gương mẫu trước quần chúng, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng và tinh thần cách mạng tiến công trong sản xuất, chiến đấu và trên mọi lĩnh vực công tác khác…”. Trong hai năm 1969-1970 phải phấn đấu đạt từ 45-50% số chi bộ “4 tốt”, từ 70-75% đảng viên “4 tốt”, tiến tới không có chi bộ và đảng viên kém.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành khóa VI gồm 13 đồng chí ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Bầu Ban Thường vụ gồm 7 đồng chí, đồng chí Lưu Văn Sơn được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Của được bầu làm Phó Bí thư.

Giữa lúc Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên đang bắt tay vào việc triển khai thực hiện nghị quyết Đảng bộ lần thứ VI thì Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài, người thầy kính yêu của dân tộc ta, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta, người chiến sỹ cách mạng kiên cường, bất khuất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã từ trần vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969 tại thủ đô Hà Nội, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho nhân dân cả nước và bạn bè khắp 5 châu. Cùng với nhân dân trong tỉnh và cả nước, Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên đã để tang Bác 7 ngày (từ ngày 4 đến ngày 10/9/1969). Sau khi Hồ Chủ Tịch qua đời, ngày 29/9/1969 Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 153 quyết định mở đợt sinh hoạt chính trị học tập làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Biến đau thương thành hành động cách mạng, Thị ủy Vĩnh Yên đã chỉ thị các tổ chức cơ sở Đảng ở các xã, khu phố, cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện trên địa bàn thị xã triển khai đợt học tập làm theo Di chúc của Bác một cách nghiêm túc. Qua đợt học tập, mỗi cấp ủy Đảng đều phải liên hệ về sự lãnh đạo của cấp mình và rút ra những điểm mạnh, yếu của đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đề ra phương hướng hành động của cấp ủy và từng cán bộ đảng viên quyết tâm thực hiện bằng được Di chúc của Bác. Ngày 6/3/1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 195 và mở cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên mới lớp Hồ Chí Minh, đồng thời kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tiêu chuẩn và tư cách. Cuộc vận động trên bắt đầu được triển khai từ ngày 19/5/1970 và kết thúc vào tháng 7/1974.

Thông qua các đợt học tập và triển khai cuộc vận động chỉnh đốn trong Đảng mà công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ có sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chất lượng đảng viên và vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cũng được nâng lên một bước.

Căn cứ nội dung cuộc vận động của Bộ Chính trị, được Tỉnh ủy hướng dẫn triển khai, Thị ủy Vĩnh Yên đã vận dụng vào thực tế địa phương nêu ra các yêu cầu cụ thể sát với thực tế, khi triển khai các đảng viên đã gương mẫu thực hiện và lãnh đạo quần chúng thực hiện tốt “Bốn nghĩa vụ” và “Năm dứt điểm”.

- Bốn nghĩa vụ là: Học tập, lao động, quân sự và đóng góp cho Nhà nước.

- Năm dứt điểm là:

+ Chấm dứt công nợ nhập nhằng, nhanh chóng thanh toán nợ cũ.

+ Chấm dứt móc ngoặc, mua bán sai chính sách, tuồn hàng và vật tư ra ngoài

+ Chấm dứt bán đất hợp tác xã.

+ Chấm dứt chè chén không chính đáng.

+ Chấm dứt tham ô và để quỹ đen bằng tiền.

Sau một thời gian triển khai chống tham ô, lãng phí, lấn chiếm đất đai, ăn uống chè chén không chính đáng, lãng phí, vay mượn nhập nhằng của tập thể được chấm dứt trong các HTX ở Vĩnh Yên.

Đối với đảng viên ở cơ quan, xí nghiệp, công nông, lâm trường, trường học… phải phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất, công tác.

Công tác bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên là một yêu cầu lớn của cuộc vận động. Trong 2 năm (1969-1970), Thị ủy đã mở lớp bồi dưỡng cho 36 đồng chí là Đảng ủy, đảng viên mới có 20 đồng chí, cử 3 đồng chí đi học văn hóa tập trung, 5 đồng chí đi học quản lý kinh tế kỹ thuật, 4 đồng chí đi học quản lý HTX, 3 đồng chí đi học chuyên môn.

Công tác kiểm tra, dân chủ kỷ luật về chấp hành nghị quyết của Đảng, về nguyên tắc xây dựng Đảng, về ý thức tổ chức kỷ luật, về phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên và kiểm tra về tài chính Đảng được triển khai sâu, rộng trong toàn Đảng bộ. Qua kiểm tra, toàn Đảng bộ đã xử lý kỷ luật 11 đảng viên từ khiển trách đến khai trừ, trong đó có 3 đồng chí Bí thư chi bộ, 1 tổ trưởng và 2 đảng viên. Công tác phát triển đảng viên mới luôn được Đảng bộ quan tâm, nhất là sau khi có nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Kết quả năm 1969, Đảng bộ kết nạp được 37 đảng viên, năm 1970 kết nạp được 14 đảng viên, trong đó có 9 đảng viên được kết nạp lớp đảng viên Hồ Chí Minh.

Với sự triển khai một cách đồng bộ trong công tác xây dựng Đảng như vậy nên trong hai năm 1969-1970, chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ được nâng lên một bước. Năm 1970 có 16 chi bộ xếp loại “4 tốt”, 17 chi bộ xếp loại khá, 7 chi Đảng bộ xếp loại trung bình, không có đơn vị kém.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ thị xã cũng còn có những tồn tại như việc đấu tranh phê bình, tự phê bình trong các chi bộ chưa được thường xuyên. Việc xử lý đảng viên vi phạm chưa kịp thời. Một số đảng viên có biểu hiện vi phạm khuyết điểm trong việc chấp hành nghị quyết của Đảng, chưa gương mẫu trong việc thực hiện các nhiệm vụ, nhất là làm nghĩa vụ đóng góp đối với Nhà nước.

Công tác xây dựng chính quyền tập trung vào việc kiện toàn Hội đồng nhân dân, UBHC qua các nhiệm kỳ theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng quản lý, điều hành nhà nước ở địa phương. Động viên được mọi tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần yêu nước, yêu CNXH, ra sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Trong 2 năm 1969-1970, các kỳ họp HĐND đều được duy trì đúng thời gian quy định của nhiệm kỳ, đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền. Tuy vậy, công tác chính quyền cũng có lúc làm chưa hết chức năng, còn có biểu hiện hữu khuynh, giải quyết công việc chưa kịp thời.

Được sự quan tâm của Đảng bộ, các đoàn thể nhân dân như Thanh niên, Phụ nữ và Mặt trận có nhiều cố gắng phát huy vai trò, chức năng và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Đoàn thanh niên sau khi vinh dự được mang tên đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã phát huy tốt truyền thống của đoàn, đẩy mạnh phong trào “3 sẵn sàng” tham gia tích cực trên lĩnh vực sản xuất, đi đầu trong việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp, trong các hoạt động văn hóa, xã hội và hăng hái tham gia lực lượng vũ trang. Những hoạt động tích cực của phong trào thanh niên Vĩnh Yên (1969-1970) đã góp phần quyết định đến việc hoàn thành 3 mục tiêu trong nông nghiệp liên tục trong 3 năm trên địa bàn thị xã.

Phong trào “3 sẵn sàng” của phụ nữ vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển trong các lĩnh vực sản xuất và công tác. Phụ nữ trong nông nghiệp nổi lên phong trào thi đua đảm bảo ngày công cao, cày cấy, chăm sóc, nâng cao năng suất cây trồng. Phụ nữ trong các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp hăng hái tham gia phong trào sản xuất nhiều mặt hàng đảm bảo kỹ thuật và tham gia gửi tiền tiết kiệm. Với những phong trào trên, phụ nữ thị xã đã có những đóng góp to lớn trong việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch do Đảng bộ đề ra.

Mặt trận Tổ quốc là khối đại đoàn kết toàn dân đã căn cứ vào nhiệm vụ trọng tâm được Đảng bộ xác định để tuyên truyền, phổ biến đến các ngành, các giới, các tầng lớp nhân dân, động viên mọi người hăng hái tham gia sản xuất và đóng góp sức người, sức của ngày càng nhiều cho đất nước.

Bước vào thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VI trong điều kiện không có chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, được Đảng bộ lãnh đạo sáng tạo, chính quyền và các đoàn thể kịp thời động viên. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thị xã đã hăng hái thi đua phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu do Đại hội đề ra. Trên lĩnh vực nông nghiệp, tính đến năm 1970 thị xã Vĩnh Yên có 100% số hộ nông dân vào HTX, 100% số HTX đều chuyển lên bậc cao. Trong số 4 HTX chuyển lên bậc cao có 863 hộ, 4.464 khẩu, 1.418 lao động. Trong 2 năm 1969-1970, các HTX đều được tham gia học tập Điều lệ mới của HTX bậc cao và Nghị quyết số 197 về cuộc vận động nâng cao quyền làm chủ tập thể của quần chúng, cuộc vận động chấn chỉnh 3 khoán trong các HTX (khoán diện tích năng suất, khoán chi phí và công lao động) nên đã tạo không khí thi đua mới trong nhân dân quyết tâm xây dựng HTX, nhiệt tình hăng say lao động, đẩy mạnh năng suất, từng bước đưa HTX phát triển. Trình độ quản lý, phong cách chỉ đạo của cán bộ HTX cũng được từng bước nâng lên. Năm 1970, tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 1.694 ha đạt 105,6% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 1,6%, so với năm 1968 tăng 14,2%. Trong đó cây lương thực tăng 11,7%, cây thực phẩm tăng 2% so với kế hoạch. Trong số 7 chỉ tiêu gieo trồng, có 4 chỉ tiêu vượt kế hoạch như lúa, ngô, khoai, cây thực phẩm. Riêng lúa năm 1970 đạt 105% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 1,8%.

Về năng suất các loại cây trồng chính như lúa, ngô, khoai, sắn, cây thực phẩm vẫn vượt và đạt kế hoạch. Riêng lúa đạt 5.277 kg/ha, đạt 105,5% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 4,5%. Đặc biệt là 4 HTX Tích Sơn, Lam Sơn, Liên Bảo, Đống Đa đều đạt 5 tấn thóc/ha. Ngô đạt 104,8% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 45,5%; sắn đạt 115,9% kế hoạch so với năm 1969 là 67%.

Về sản lượng: Tổng sản lượng quy thóc năm 1970 là 1.447 tấn, đạt 105,2% kế hoạch. Riêng lúa tăng 37 tấn so năm 1969, tăng 56 tấn so với năm 1968, cả 4 HTX nông nghiệp của thị xã đều có sản lượng tăng, tăng cao nhất là HTX Tích Sơn. Cây thực phẩm đạt 7.052 tấn, bằng 93,3% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 37%, so với năm 1962 tăng 35,9%, so với kế hoạch năm 1970 tăng 58%.

Về chăn nuôi: Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ VI đề ra là trong bất cứ điều kiện nào, thị xã vẫn hoàn thành mọi nghĩa vụ đóng góp đối với Nhà nước. Ngoài lương thực, Đảng bộ tập trung chỉ đạo sản xuất thực phẩm bằng việc đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm và thả cá. Với chủ trương trên, năm 1970 thị xã có đàn trâu là 321 con, đạt 110% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 14%; đàn bò có 206 con, bằng 66% kế hoạch, so với năm 1969 giảm 20%; đàn lợn trên hai tháng tuổi là 4.225 con, bằng 93% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 8,3%, lợn nái có 322 con, bằng 53% kế hoạch so với năm 1969 giảm 157 con. Riêng đàn lợn tập thể trên hai tháng tuổi có 1.341 con, đạt 78% kế hoạch, so với năm 1969 giảm 216 con, lợn nái có 176 con, so với năm 1969 giảm 14 con. Các loại gia cầm có 23.835 con, đạt 95,3% kế hoạch, so với năm 1969 tăng 7,8%.

Phong trào nuôi thả cá được tất cả 4 HTX triển khai, các HTX đều có đội chuyên phụ trách từ khâu ươm cá giống đến nuôi thả, thu hoạch. Tổng diện tích thả cá năm 1970 của thị xã là 52,2 ha, đạt 93% kế hoạch. So với năm 1969 bằng 100%. Số lượng cá được thả là 446.489 con, bằng 48% kế hoạch, so với năm 1969 bằng 82,5%. Sản lượng cá đã thu đạt 25 tấn, bằng 85% kế hoạch, so với năm 1969 bằng 93%.

Phong trào trồng cây được Đảng bộ nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng nên đã có chủ trương động viên cán bộ và nhân dân tận dụng đất đai có thể trồng cây ở tất cả các nơi như cơ quan, đồi gò, dọc đường giao thông, bờ mương… Để làm tốt chủ trương trên, các HTX đã thành lập đội chuyên trách do các cụ phụ lão đảm nhận. Qua hai năm (1969-1970) triển khai phát động tết trồng cây đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thị xã trồng được 38.000 cây, tỷ lệ cây sống đạt cao.

Cùng với sản xuất nông nghiệp, tình hình công nghiệp và thủ công nghiệp cũng có bước phát triển khá. Ngay sau khi chiến tranh phá hoại chấm dứt, Thị ủy đã chỉ đạo cơ sở sản xuất thủ công nghiệp từ nơi sơ tán nhanh chóng trở về địa bàn thị xã. Việc trước tiên là xây dựng lại nhà xưởng, bổ xung máy móc, thiết bị, mua nguyên, vật liệu để phục vụ sản xuất. Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng với tinh thần chuyển biến về tư tưởng của cán bộ, đảng viên và bà con xã viên qua cuộc vận động sản xuất, vận động dân chủ, học tập Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh… ngành sản xuất thủ công nghiệp đã khắc phục được khó khăn, nâng cao tinh thần tự lực, tự cường phát triển thêm một số hàng mới có giá trị như sản xuất đồ da, ngói đun, ngói xi măng, giường, bàn ghế bằng sắt, thành lập tổ sửa chữa công cụ… Với sự nỗ lực cố gắng như vậy, ngành thủ công nghiệp thị xã đã phấn đấu đưa giá trị tổng sản lượng năm 1970 là 1.577 nghìn đồng, đạt 112%, so với năm 1969 tăng 15% bằng 191 nghìn đồng. Trong đó nhóm A đạt 64,3%, nhóm B đạt 117%. Bình quân thu nhập mỗi xã viên là 45 đồng/tháng. Riêng HTX Quyết Tiến có mức thu nhập là 47 đồng, thấp nhất là HTX Hồng Phương thu nhập 30,2 đồng. Về tích lũy HTX Quyết Tiến là 10 đồng, HTX Khuy Trai là 6,8 đồng.

Về công nghiệp: Thị xã có 6 xí nghiệp Quốc doanh là cơ khí, bát sứ, mộc, in, điện lực, dược phẩm. Các xí nghiệp trên đều do tỉnh quản lý, nhưng do đóng trên địa bàn nên đã được Đảng bộ và chính quyền quan tâm tạo mọi điều kiện để các xí nghiệp nhanh chóng ổn định sản xuất. Trong những năm qua, thị xã đều đạt và vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch được giao. Trong đó có 4/6 xí nghiệp vượt là: Xí nghiệp in đạt 101%, cơ khí đạt 105%, điện lực đạt 102%, dược phẩm đạt 101%. Những kết quả về sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp đã góp phần vào phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn thị xã.

Song song với lãnh đạo phát triển kinh tế, công tác giáo dục, y tế, văn hóa cũng được quan tâm và có bước phát triển mới.

Về giáo dục: Mặc dù gặp nhiều khó khăn từ nơi sơ tán trở về thị xã, nhưng Thị ủy đã có nhiều cố gắng chăm lo đến sự nghiệp phát triển giáo dục trên cả 3 ngành học. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, ngành giáo dục đã nhanh chóng tu bổ, xây dựng lại các lớp học, nhà làm việc, nhà ở cho giáo viên, mua sắm thêm bàn ghế.

Với sự nỗ lực như vậy, số học sinh theo học ở các cấp đều tăng so với lúc chiến tranh. Năm học 1968-1969 cấp I có 1.570 học sinh, năm học 1969-1970 tăng lên 2.001 học sinh; cấp II năm học có 920 học sinh, năm học 1969-1970 tăng lên 1.002 học sinh; cấp III có 450 học sinh, năm học 1969-1970 có 455 học sinh. Tỉ lệ thi tốt nghiệp năm 1969-1970 cấp I đạt 66%, cấp II đạt 66%, cấp III đạt 59%.

Công tác y tế có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ sức khỏe cho cán bộ và nhân dân. Phong trào trồng cây thuốc nam kết hợp với tây y được triển khai rộng rãi ở các bệnh viện từ tỉnh đến các xã, khu phố, bước đầu đã đem lại hiệu quả tốt. Phong trào vệ sinh phòng bệnh cũng được triển khai sâu rộng trong nhân dân, nhất là sau những trận lụt đã ngăn chặn không để các dịch bệnh xẩy ra.

Phong trào văn hóa văn nghệ có nhiều tiến bộ trong việc động viên tinh thần sản xuất, chiến đấu và đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa. Phong trào văn nghệ quần chúng, chiếu phim, sinh hoạt câu lạc bộ, thư viện được phát triển ngày càng mạnh, góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo ra không khí lạc quan, vui tươi trong nhân dân và động lực tinh thần trong quần chúng, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Mặc dù trong điều kiện tạm ngừng chiến tranh phá hoại của Mỹ nhưng Đảng bộ vẫn luôn luôn quan tâm đến công tác quân sự địa phương. Phong trào xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh được thực hiện thường xuyên. Tính đến năm 1970, 100% số khu phố và cơ quan đều xây dựng được lực lượng dân quân, tự vệ, trong đó các đối tượng đủ tiêu chuẩn, đủ điều kiện đều tham gia dân quân, tự vệ. Tính đến năm 1970 dân quân, tự vệ thị xã đạt tỷ lệ 18,8% so với cán bộ công nhân viên. Tỷ lệ đảng viên trong lực lượng dân quân, tự vệ chiếm 11,9%, tỷ lệ đoàn viên chiếm 88,2%. Phụ trách dân quân, tự vệ ở từng đơn vị đều do một đồng chí cấp ủy được phân công phụ trách. Cán bộ từ tiểu đội đến đại đội đều được tham dự các lớp bồi dưỡng về kỹ thuật, chiến thuật và chỉ huy. Qua kiểm tra bắn đạn thật năm 1969 và 1970 dân quân, tự vệ thị xã đã được tỉnh xếp vào loại khá giỏi.

Công tác tuyển quân vẫn phát huy được truyền thống qua nhiều năm, đảm bảo hoàn thành vượt mức chỉ tiêu trên giao. Năm 1969, công tác tuyển quân không có trường hợp nào thoái thác. Điều đáng phấn khởi là khu Lam Sơn được Chủ tịch nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Hai về công tác tuyển quân.

Công tác phòng không vẫn được duy trì thường xuyên mặc dù chiến tranh tạm ngừng như luyện tập các phương án tác chiến, xây dựng các đội chuyên củng cố hệ thống hầm hào, trận địa vẫn được lực lượng dân quân, tự vệ thị xã hàng năm ôn luyện và chuẩn bị. Công tác bảo vệ trị an trong 2 năm 1969-1970 thị xã được duy trì tốt, giữ vững được trật tự trị an ở 7 khu phố và các cơ quan xí nghiệp đóng trên địa bàn. Bảo vệ an toàn tuyệt đối về tài sản của Nhà nước và nhân dân. Với thành tích như vậy, thị xã Vĩnh Yên được tỉnh xếp loại khá 6/7 khu phố, 1 khu xếp loại trung bình, 24/42 cơ quan được xếp loại đơn vị an toàn, 13 cơ quan được xếp loại khá, 11 cơ quan được xếp loại trung bình.

Những kết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, trị an cũng như công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể trên địa bàn thị xã, đã tạo ra thế và lực mới để Đảng bộ và nhân dân vững vàng bước vào giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn tập trung cao độ về sức người, sức của cùng cả nước đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội đại biểu lần thứ VII Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên được tiến hành từ ngày 28/3 đến ngày 31/3/1971. Về dự Đại hội có 83 đại biểu chính thức và 5 đại biểu dự khuyết. Đại hội đã tổng kết 2 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ VI và đề ra phương hướng nhiệm vụ 2 năm 1971-1972 của thị xã là: “Ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, chủ yếu là trồng cây thực phẩm và chăn nuôi các loại. Vừa đẩy mạnh phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước chủ yếu là thịt, cá, trứng, rau, lương thực đảm bảo tự túc cho nông dân, đồng thời đẩy mạnh các ngành khác phát triển”.

Trong 2 năm 1971-1972 thị xã chuyển dần diện tích trồng cây lương thực sang sản xuất cây thực phẩm và phục vụ chăn nuôi. Năng suất lúa phải đạt 6 tấn/ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc là 1.910 tấn. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, thả cá, trồng cây gây rừng tiếp tục được đẩy mạnh. Bảo đảm hàng năm đóng góp cho Nhà nước 30 tấn thóc, 80 tấn lợn hơi, 6 tấn gia cầm, 11 tấn cá, 2 vạn quả trứng và 1000 tấn rau các loại.

Đối với công nghiệp và thủ công nghiệp: Đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng phục vụ nông nghiệp, xây dựng giao thông vận tải, xuất khẩu và tiêu dùng cho nhân dân. Riêng ngành thủ công nghiệp phấn đấu đạt giá trị tổng sản lượng 1,5 triệu đồng năm 1971 và 1,7 triệu đồng năm 1972.

Công tác xây dựng Đảng: “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên. Thông qua các cuộc vận động lớn và qua các phong trào thi đua trên các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội để thực hiện tốt việc xây dựng Đảng”.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ khóa VII gồm 15 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết. Bầu Ban Thường vụ gồm 7 đồng chí, đồng chí Lưu Văn Sơn được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Của và Nguyễn Quang Quỳnh được bầu làm Phó Bí thư.

Phát huy kết quả đạt được trong những năm qua, các ngành, các cấp trên địa vàn thị xã đều xây dựng quyết tâm và kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện nghị quyết do Đảng bộ thị xã đề ra. Thành tích nổi bật trên lĩnh vực nông nghiệp là cả 4 HTX nông nghiệp thị xã Vĩnh Yên là Đống Đa, Lam Sơn, Liên Bảo, Tích Sơn đều đạt 3 mục tiêu là 6,121 kg thóc, 2,6 đầu lợn/1 lao động/1,138 ha gieo trồng. Với thành tích trên, tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua nông nghiệp năm 1971, Tỉnh ủy UBHC tỉnh đã tặng cờ thi đua cho huyện Vĩnh Tường và thị xã Vĩnh Yên là những đơn vị có phong trào thi đua khá nhất trên mặt trận sản xuất và chiến đấu của tỉnh.

Ngành thủ công nghiệp đã phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch trước một tháng. Đặc biệt, các mặt hàng phục vụ xây dựng, kiến thiết cơ bản và phục vụ đời sống cho nhân dân đều hoàn thành tốt.

Công tác quân sự địa phương luôn là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao được cấp trên xếp loại giỏi, là đơn vị đứng thứ 2 trong toàn tỉnh.

Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng được giữ vững và có bước phát triển. Các lĩnh vực văn hóa xã hội, y tế, giáo dục tiếp tục giành được những thắng lợi mới.

Như vậy, sau một năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ VII, thị xã Vĩnh Yên đã có bước phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công tác chính trị, kinh tế và văn hóa. Nghị quyết Đại hội Đảng đang được triển khai một cách khẩn trương thì đế quốc Mỹ tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc. Đảng bộ và nhân dân thị xã lại phải chuyển hướng từ sản xuất xây dựng sang nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ và tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam.

3. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Dồn sức chi viện cho miền Nam cùng cả nước giành toàn thắng (1972-1975)

Để cứu vãn sự sụp đổ của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” trên chiến trường miền Nam, đồng thời gây sức ép buộc ta phải chấp nhận những điều khoản do chúng đưa ra tại hội nghị Pari. Đế quốc Mỹ đã xóa bỏ cam kết chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc và ra lệnh cho không quân ồ ạt đánh phá trở lại miền Bắc nước ta.

Bắt đầu từ đêm ngày 15/4/1972 và sáng 16/4/1972 cả hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng đều bị đánh phá. Đây là mốc mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của đế quốc Mỹ. Ngay ngày 16/4/1972, Ban chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, triệu người như một, hãy nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên quyết chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà… Mỗi xí nghiệp, công trường, nông trường, HTX, cơ quan, trường học, đường phố phải là một chiến hào sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi hành động phiêu lưu quân sự của giặc Mỹ và tay sai”.

Tiếp đó, ngày 1/6/1972 Bộ Chính trị ra nghị quyết chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nghị quyết chỉ rõ: “Chiến tranh đang tiếp tục diễn ra quyết liệt trên cả nước ta, mọi hoạt động của miền Bắc phải thực sự khẩn trương, chuyển hướng nhằm đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu cho phù hợp với thời chiến”.

Hưởng ứng lời kêu gọi và nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã phát động một đợt sinh hoạt chính trị, động viên toàn Đảng, toàn quân với chủ đề: “Quân và dân Vĩnh Phú quyết chiến giặc Mỹ xâm lược” nhằm chỉ rõ âm mưu hành động quỷ quyệt, tàn bạo của kẻ thù, từ đó xác định nhiệm vụ của hậu phương đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Để chủ động phòng tránh và đánh địch, Nghị quyết số 05/TU ngày 16/4/1972 của Tỉnh ủy đã chủ trương chỉ đạo trong toàn tỉnh phải tu sửa gấp hầm hào phòng tránh trong hai ngày 17 và 18/4/1972 phải xong, củng cố lại mạng lưới báo động phòng không, triển khai lực lượng chiến đấu, khẩn trương sơ tán người và tài sản khỏi những nơi địch có thể đánh phá.

Thực hiện nghị quyết của Trung ương và chỉ đạo của Tỉnh ủy, Thị ủy Vĩnh Yên đã ra nhiều nghị quyết chuyên đề công tác quân sự địa phương nhằm thực hiện tốt công tác phòng tránh, đánh trả máy bay địch khi chúng xâm phạm đến vùng trời thị xã. Về công tác phòng không, Thị ủy đã phân công trách nhiệm cho từng khối, từng ngành, từng đồng chí Thị ủy viên xuống từng cơ quan, khu phố đôn đốc kiểm tra, chỉ đạo dứt điểm từng phần việc như sửa chữa hầm hào phòng tránh, sơ tán người già và trẻ em, phân tán vật tư của tập thể và cơ quan khỏi những nơi địch có thể đánh phá.

Với tinh thần chỉ đạo cụ thể, sâu sát như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn công tác phòng tránh trên địa bàn thị xã đã thu được kết quả khá:

- Hố cá nhân đào mới và sửa chữa là 19.667 chiếc.

- Hầm kèo đào mới và sửa chữa được 1.973 chiếc.

- Giao thông hào mới và sửa chữa được 4.220 mét.

Tổ chức sơ tán 2.951 người già và trẻ em ra khỏi khu vực thị xã và 648 người ban ngày sơ tán khỏi thị xã tối lại về tiếp tục công việc. Việc phân tán hàng hóa, vật tư ra khỏi thị xã được triển khai an toàn không để mất mát.

Để thông báo kịp thời cho nhân dân khi có máy bay, thị xã cho lắp đặt hệ thống còi ủ, sửa chữa hệ thống đường dây và loa truyền thanh công cộng đến từng gia đình để kịp thời thông báo. Ngoài ra, thị xã còn tổ chức nhiều đài quan sát, thường trực suốt ngày đêm để phát hiện máy bay địch thông báo kịp thời đến người dân.

Cùng với công tác phòng tránh, các cấp ủy còn coi trọng việc xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng dân quân, tự vệ đảm bảo về số lượng và chất lượng, để trong bất cứ tình huống nào dân quân, tự vệ vẫn là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền. Với nhận thức và chủ trương như vậy, công tác xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ thị xã năm 1972 có 2.333 người cả khối nông dân và cơ quan nhà nước. Riêng năm 1972, thị xã phát triển được 629 dân quân, tự vệ. Lực lượng trên được biên chế thành 14 đại đội, 60 trung đội, trong đó có 26 trung đội là lực lượng thường trực chiến đấu.

Về chất lượng 65,3% đảng viên, 15,5% cấp ủy trong Đảng bộ tham gia dân quân, tự vệ. Tỉ lệ đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh chiếm 97,4% tổng số đoàn viên trong toàn thị xã tham gia dân quân tự vệ. Thành phần cơ bản chiếm 94% trong lực lượng dân quân, tự vệ. Đội ngũ cán bộ từ trung đội đến đại đội đều được tham dự các lớp chuyên môn như trinh sát, thông tin, công binh. Lực lượng dân quân, tự vệ trực tiếp chiến đấu được huấn luyện các bài bắn đạn thật, kỹ thuật bắn máy bay, bắt giặc lái, đánh địch đổ bộ đường không… Qua kiểm tra 100% đơn vị dự huấn luyện đạt yêu cầu, trong đó có 81% đạt khá giỏi.

 Công tác động viên tuyển quân được các cấp ủy Đảng rất quan tâm. Do làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền vận động, năm 1972 thị xã Vĩnh Yên có 4.184 thanh niên viết đơn tình nguyện xin được đi đánh Mỹ, trong đó có 666 đơn được viết và ký tên bằng máu. Có nhiều gia đình tình nguyện xin cho con đi bộ đội. Có gia đình một năm có 2 con nhập ngũ. Với tinh thần tất cả vì miền Nam ruột thịt “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trong nhiều năm liên tục thị xã Vĩnh Yên đã thực hiện tốt khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Riêng năm 1972, công tác tuyển quân ở Vĩnh Yên đảm bảo cả 3 chỉ tiêu: Số lượng, chất lượng và thời gian. Năm 1972 có ba đợt tuyển quân đạt 109%, tuyển nữ hai đợt đạt 104%. Năm 1972 là năm thứ 7 hoàn thành vượt mức chỉ tiêu tuyển quân, được Chính phủ tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ đối với thị xã Vĩnh Yên là ngày 1/6/1972, địch cho nhiều tốp máy bay dùng bom phá và bom hơi đánh phá khu vực cầu Đầm Vạc và khu vực cầu Lính thuộc xã Định Trung nhưng không gây thiệt hại. Đỉnh cao của chiến tranh phá hoại là 12 ngày đêm cuối năm 1972, địch đã dùng nhiều máy báy F4, F111 đánh phá vào thị xã Vĩnh Yên cả ngày lẫn đêm từ ngày 22/11/1972 đến ngày 26/12/1972. Do làm tốt công tác phòng tránh nên thị xã đã hạn chế được thiệt hại với mức thấp nhất do địch gây ra.

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu, lực lượng dân quân, tự vệ thị xã trên các trận địa trực chiến đã nổ súng đánh trả máy bay Mỹ quyết liệt khi chúng xâm phạm vùng trời thị xã làm hạn chế âm mưu đánh phá của địch, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực, bộ đội phòng không tiêu diệt chúng, góp phần cùng quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh nhiệm vụ phòng tránh vừa phải chi phối thời gian, vừa phải phân tán lực lượng, nhưng dưới ánh sáng Nghị quyết 9 của Trung ương và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ nhất, Thị ủy Vĩnh Yên đã lãnh đạo nhân dân quyết tâm giữ vững ổn định sản xuất trong bất kỳ tình huống nào. Trên lĩnh vực nông nghiệp, thị xã đã đi vào khoanh vùng sản xuất, thực hiện chuyên canh, thâm canh để giành năng suất cây trồng và đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính. Tổng diện tích gieo trồng năm 1972 đạt trên 1.200 ha, bằng 103,5% kế hoạch, năng suất lúa bình quân đạt 6.048 kg/ha bằng 100,04% kế hoạch. Tổng sản lượng quy ra thóc là 1.763 tấn bằng 108,7% kế hoạch. Tính đến năm 1973, thị xã Vĩnh Yên 5 năm liên tục đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp, là một trong những đơn vị khá của tỉnh.

Sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp: Trong điều kiện chiến tranh khó khăn về nguyên vật liệu, cơ sở vật chất lại bị phân tán, nhưng với quyết tâm hoàn thành kế hoạch trong mọi điều kiện nên ngành thủ công nghiệp tổng giá trị sản lượng vẫn đạt 14%, trong đó có 13/15 chỉ tiêu sản phẩm hoàn thành vượt mức kế hoạch.

Cùng với phát triển sản xuất, công tác giáo dục, y tế, văn hóa xã hội tiếp tục được duy trì và phát triển trong chiến tranh. Năm học 1971-1972, các ngành học phổ thông của thị xã có nhiều cố gắng khắc phục mọi khó khăn trong điều kiện chiến tranh phải sơ tán, vẫn duy trì phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Nhiều nhà trường còn có phong trào thi đua giành cờ thưởng của Đại hội, phấn đấu đuổi kịp các điển hình tiên tiến. Về chất lượng: Cấp I thi hết cấp đạt 54%, cấp II đạt 79%, cấp III đạt 75%.

Công tác y tế, ngoài việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân còn làm tốt công tác cấp cứu người bị thương sau mỗi lần địch đánh phá. Công tác văn hóa văn nghệ vẫn được duy trì nhằm động viên tinh thần của nhân dân, thường được tổ chức vào những ngày lễ lớn trong năm. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa được nhân dân đồng tình hưởng ứng.

Những thắng lợi đạt được của Đảng bộ thị xã từ năm 1969-1972 trên tất cả các lĩnh vực đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để Đảng bộ vượt qua khó khăn, ác liệt của chiến tranh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị do nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ VII đề ra. Góp phần cùng quân và dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi to lớn của quân và dân cả hai miền Nam-Bắc, đặc biệt là trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom và các hành động chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 15/1/1973 và ngày 27/1/1973 phải ký hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Ngày 29/3/1973, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn, đơn vị cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát của sỹ quan quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Như vậy, từ năm 1973 hòa bình đã thực sự lập lại đối với miền Bắc, các mặt hoạt động xã hội được trở lại bình thường, sức lao động được tập trung hơn. Các cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện được trở về thị xã. Tinh thần cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi bắt tay vào xây dựng lại quê hương. Song, bên cạnh những thuận lợi, Vĩnh Yên cũng đứng trước những khó khăn mới nảy sinh như nhu cầu hàng tiêu dùng thiếu thốn; hậu quả chiến tranh để lại nặng nề phải có thời gian giải quyết, khắc phục. Thời tiết diễn biến thất thường làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Để tiếp tục lãnh đạo nhân dân tập trung những điều kiện thuận lợi, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới. Từ ngày 14 đến ngày 17/5/1973, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VIII. Về dự Đại hội có 96 đại biểu thay mặt cho 926 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Phương hướng nhiệm vụ trong nhiệm kỳ VIII, sau khi nêu những đặc điểm tình hình mới của thị xã, căn cứ vào nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra, phương hướng chung được Đại hội xác định: “Phát huy mạnh mẽ hơn phong trào thi đua giành cờ Đại hội tỉnh Đảng bộ, đưa phong trào thi đua tiến lên một bước mới để chuyển nhanh, chuyển mạnh nền sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác phát triển đi lên đồng đều cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ của cách mạng mới. Song song với phát triển sản xuất phải coi trọng công tác xây dựng Đảng và chính quyền, đẩy mạnh các hoạt động của các đoàn thể quần chúng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đưa sự nghiệp xây dựng XHCN của thị xã Vĩnh Yên tiến lên những bước vững chắc”.

Để thực hiện phương hướng chung do Đại hội đề ra, phương hướng cụ thể về sản xuất nông nghiệp được xác định là: Tiếp tục phấn đấu đạt 3 mục tiêu, đảm bảo tự túc lương thực, hoàn thành các nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước, tích lũy để tái sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Trong trồng trọt xác định gieo trồng hai loại cây là cây lúa và cây rau. Về chăn nuôi tập thể xác định 2 con là: Con lợn và con cá. Về cơ cấu và biện pháp kỹ thuật: Tập trung chỉ đạo gieo trồng các loại giống lúa có năng suất cao thay cho các giống lúa đã thoái hóa, tiến tới 100% giống lúa mới, chủ yếu là nông nghiệp tám kể cả vụ chiêm và vụ mùa. Mạnh dạn áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất.

Với tinh thần thi đua lao động quên mình, phấn đấu đảm bảo diện tích, năng suất sản lượng của kế hoạch đề ra. Năm 1973, tổng diện tích gieo trồng thực hiện được là 1.185,27 ha, năm 1974 tăng lên 1.362,32 ha, so với kế hoạch vượt 0,9%, trong đó cây lương thực thực hiện 612,6 ha, so với kế hoạch vượt 7,4%. Diện tích cây ngô trồng được 22,8 ha so với năm 1973 tăng 10%; khoai 43,7 ha so với năm 1973 bằng 70,3%, cây thực phẩm rau trồng 549,2 ha, vượt 3,6% so với năm 1973; cây đậu xanh 8,5 ha so với năm 1973 vượt 2%, cây công nghiệp trồng được 12,15 ha so với năm 1973 đạt 65%.

Năng suất cây lương thực bình quân đạt 5.520 kg/ha, năng suất lúa đạt bình quân 6.769 kg/ha. Năng suất ngô 1.268 kg/ha, so với năm 1973 tăng 23%; năng suất khoai 3.450 kg/ha, so với năm 1973 tăng 57%. Tổng sản lượng lương thực đạt 1.853, 383 tấn, so với kế hoạch vượt 13%, trong đó sản lượng lúa là 1.760,383 tấn, so với kế hoạch vượt 15,6%.

Đánh giá chung nông nghiệp Vĩnh Yên là đơn vị được tỉnh xếp vào những đơn vị có năng suất cao, liên tục 6 năm liền đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp. Đặc biệt, HTX Đống Đa năm 1974 đạt trên 7 tấn thóc/ha. Do vậy, ngoài phần đóng góp cho Nhà nước, HTX còn có phần tích lũy khá, đời sống của nhân dân được cải thiện, với mức ăn từ 20 đến 21 kg thóc/người/tháng.

Tuy vậy, trong nông nghiệp vẫn còn bộc lộ những tồn tại như diện tích canh tác còn để lãng phí, đất đai ít lại phải thâm canh; chưa tận dụng hết khả năng, tiềm năng, thế mạnh để phát triển nông nghiệp; việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được coi trọng; công tác quản lý chưa chặt chẽ còn để lãng phí.

Về chăn nuôi, quán triệt Nghị quyết số 43 và 44 của Tỉnh ủy, công tác chăn nuôi lợn, chăn nuôi cá, chăn nuôi gia cầm, gia súc, Thị ủy đã triển khai nhiều biện pháp nhằm đưa chăn nuôi phát triển lên một bước, ở cả hai khu vực tập thể và gia đình như củng cố hệ thống chuồng trại, đưa giống mới vào chăn nuôi, tiêm phòng bệnh cho đàn gia súc… Nhờ những biện pháp tích cực như vậy mà ngành chăn nuôi đã duy trì được mức độ ổn định trong điều kiện khó khăn. Trong đó, chăn nuôi gia cầm tăng hơn năm 1973 là 2%. Đi đôi với phát triển sản xuất, Thị ủy đã chỉ đạo phải từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, khắc phục những hiện tượng tiêu cực, phát huy quyền làm chủ của xã viên, tiến hành phân công lại theo hướng chuyên môn hóa. Đồng thời phải ổn định quy mô HTX ở mức vừa phải. Đặc biệt là năm 1974, thị xã Vĩnh Yên đã làm tốt công tác khoanh vùng, hình thành 3 vùng sản xuất là: Vùng lúa, vùng màu và vùng sản xuất rau.

Sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, tuy khó khăn về vật tư, năng lượng, nhưng một số ngành đã có nhiều cố gắng chủ động để hoàn thành nhiệm vụ như xí nghiệp in đạt 100% kế hoạch, xí nghiệp dược vượt 0,3%, xí nghiệp mộc vượt 3,9%. Ngành thủ công nghiệp giá trị tổng sản lượng đạt hơn 1,6 triệu đồng, bằng 95% kế hoạch, trong đó HTX Quyết Tiến đạt 100%, HTX may mặc Thống Nhất đạt 103%.

Các nghĩa vụ đóng góp của thị xã với Nhà nước đều hoàn thành, lương thực đạt 131 tấn, bằng 101% kế hoạch; thịt lợn hơi đạt 86 tấn, bằng 108% kế hoạch; rau 800 tấn; trứng đạt 50.000 quả.

Công tác chính quyền và các đoàn thể quần chúng có nhiều cố gắng trong việc triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đến với nhân dân ở 7 đơn vị khu phố, 4 HTX nông nghiệp, 9 HTX thủ công, các xí nghiệp cửa hàng, cơ quan hành chính sự nghiệp. Hầu hết các đơn vị đều kiểm điểm, đánh giá ưu khuyết điểm trong việc quản lý vật tư, tài sản của Nhà nước. Đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết 228 và 5 nghị quyết chuyên đề của Ủy ban hành chính tỉnh. Qua liên hệ kiểm tra 40 đơn vị đã phát hiện 71 vụ vi phạm chính sách kinh tế, 30 vụ tham ô tài sản XHCN và nhiều vụ thiếu hụt tiền, hàng, lãng phí… những vụ vi phạm trên đã được xử lý nghiêm minh. Công tác chính quyền đã phát huy được quyền làm chủ tập thể của nhân dân, động viên mọi người nâng cao trách nhiệm trong sản xuất, trong quản lý kinh tế, trong việc bảo vệ tài sản XHCN. Do làm tốt chức năng nhiệm vụ, chính quyền thị xã đã được tỉnh xếp là đơn vị dẫn đầu khối thành phố, thị xã của tỉnh, được Chính phủ tặng thưởng Huân chương và nhiều Bằng khen, giấy khen. Thị xã tiếp tục được nhận cờ thi đua Đại hội Đảng bộ tỉnh liên tục 3 năm liền.

Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ đều làm tốt công tác tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên và thành viên thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, đẩy mạnh các hoạt động góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương như: Phấn đấu đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp, hoàn thành các nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước, công tác tuyển quân, đẩy mạnh các phong trào “Ba sẵn sàng”, phụ nữ “Ba đảm đang”.

Công tác xây dựng Đảng trong hai năm (1973-1974), Đảng bộ đã làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên thông qua việc triển khai học tập các Nghị quyết 22, 225, 228 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 43 của Tỉnh ủy. Qua học tập các tổ chức cơ sở Đảng và từng đảng viên đều có sự liên hệ kiểm điểm rút ra những điểm mạnh, yếu, trên cơ sở đó xây dựng phương hướng để khắc phục. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, trong nhiệm kỳ Đảng bộ đã mở một lớp văn hóa bán tập trung cho cán bộ chủ chốt của thị xã và một lớp bổ túc văn hóa. Kết quả trong nhiệm kỳ Đảng bộ có 75 người theo chương trình cấp II và cấp III, trong đó có 120 đồng chí là đảng viên, 397 là đoàn viên.

Về tổ chức, đến năm 1975 Đảng bộ thị xã có 55 chi, đảng bộ cơ sở gồm 955 đảng viên. Qua phân loại, đảng viên xếp loại phấn đấu tốt có 613 đồng chí, phấn đấu chưa tốt 269 đồng chí, không dự phân loại có 33 đồng chí. Về tổ chức cấp ủy Đảng có 24 chi, Đảng bộ được xếp loại phấn đấu tốt, 27 đơn vị chưa tốt, không dự phân loại 1. Nội dung sinh hoạt của các chi bộ đã đảm bảo được 3 tính chất: Lãnh đạo, chiến đấu, học tập và rèn luyện. Công tác phát triển đảng viên mới được Thị ủy quan tâm, chú ý tới những nơi đảng viên ít, nơi công nhân trực tiếp sản xuất. Chất lượng đảng viên mới được kết nạp ngày càng được nâng cao. Cùng với việc triển khai thực hiện Chỉ thị 192 của Trung ương, Thị ủy còn tiến hành kiểm tra dân chủ kỷ luật trong Đảng nhằm giáo dục cho đảng viên ý thức kỷ luật, về tinh thần trách nhiệm trong sản xuất, chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đồng thời xử lý nghiêm khắc đối với những đảng viên vi phạm. Trong năm 1947, Đảng bộ thị xã đã kỷ luật 16 đảng viên bằng 1,5%, trong đó có 9 đảng viên vi phạm Chỉ thị 192, còn lại 7 đảng viên vi phạm kỷ luật khác, trong đó khai trừ 12, lưu đảng 2, cảnh cáo 1, khiển trách 1. Bước sang năm 1975, năm thứ 3 miền Bắc có hòa bình, đang dấy lên phong trào thi đua chào mừng 45 ngày thành lập Đảng, 30 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 85 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra trong năm 1975, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ IX từ ngày 15/2 đến ngày 19/2/1975. Về dự Đại hội có 93 đại biểu thay mặt cho 95 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đại hội đã xác định phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ trong năm 1975 là: Chuyển mạnh Vĩnh Yên sang sản xuất thực phẩm và sản xuất hàng hóa công nghệ phẩm theo hướng sản xuất lớn XHCN, thực hiện tốt nhiệm vụ tự túc lương thực, tăng phần đóng góp với Nhà nước, nhất là thực phẩm và hàng hóa công nghiệp phẩm, tăng tích lũy và cải thiện đời sống nhân dân, làm tốt nghĩa vụ quân sự địa phương, đảm bảo trật tự an toàn, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa xã hội, thực hiện tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Các mục tiêu phấn đấu cụ thể là:

Về nông nghiệp, sản lượng lương thực đạt 1.850 tấn, phát triển đàn lợn lên 5.000 con, trâu, bò 560 con và 50 tấn cá. Phấn đấu đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp là 1 lao động 7 tấn thóc, 3 đầu lợn/1ha gieo trồng. Làm nghĩa vụ cho Nhà nước 180 tấn lương thực, 120 tấn lợn hơi, hơn chục nghìn tấn rau xanh các loại.

Về công nghiệp và thủ công nghiệp, phấn đấu công nghiệp quốc doanh địa phương hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Chất lượng sản phẩm tốt và kinh doanh có lãi. Thủ công nghiệp phấn đấu đưa giá trị tổng sản lượng từ 1,6 triệu lên 1,8 triệu đồng. Riêng hàng xuất khẩu đạt tổng giá trị là 412 nghìn đồng. Phấn đấu 100% số cơ quan, khu phố, xí nghiệp làm tốt công tác trị an, 20 đơn vị dân quân, tự vệ đạt danh hiệu quyết thắng. Tăng cường củng cố hoạt động của chính quyền từ thị đến cơ sở. Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân ngày càng tốt hơn.

Công tác xây dựng Đảng, phấn đấu từ 80% chi, đảng bộ trở lên được xếp loại tốt; xóa bỏ chi, đảng bộ yếu kém, đảng viên phấn đấu tốt đạt từ 65% trở lên.

Một vinh dự lớn với Đảng bộ là Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ IX được Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm và nói chuyện với Đại hội. Đại hội đã bầu Ban chấp hành khóa IX gồm 17 đồng chí, bầu Ban Thường vụ gồm 7 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Của được bầu làm Bí thư.

Ngày 17/2/1975, Tỉnh ủy đã họp và ra Nghị quyết số 69 về phương hướng nhiệm vụ năm 1975, trong đó đã đề ra các mục tiêu phấn đấu cụ thể trên từng mặt nhằm thực hiện kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế văn hóa hai năm 1974-1975. Cùng thời gian toàn Đảng bộ tổ chức đợt sinh hoạt chính trị nhằm thực hiện Nghị quyết lần thứ 23 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II “Về tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng”. Đợt sinh hoạt chính trị này được triển khai từ tháng Giêng năm 1975 và kết thúc vào tháng 8/1975. Tiếp đó, ngày 6/4/1975 gần 100% cử tri thị xã Vĩnh Yên đi bầu cử Quốc hội khóa V thành công tốt đẹp. Tất cả những sự kiện chính trị trên đã tiếp thêm sức mạnh cho Đảng bộ và nhân dân thị xã phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương trong năm 1975.

Giữa lúc Đảng bộ và nhân dân thị xã đang phấn khởi tập trung cao độ thực hiện phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và chi viện cho cách mạng miền Nam về sức người, sức của thì tin vui chiến thắng dồn dập từ chiến trường miền Nam dội về làm nức lòng người dân thị xã. Ngày 30/4/1975 quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ vô cùng anh dũng của dân tộc Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trong thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc Việt Nam, có một phần đóng góp tích cực của Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên.

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955-1975) trên lĩnh vực kinh tế từ năm 1955-1950, Vĩnh Yên là thị xã tỉnh lỵ, luôn là đơn vị dẫn đầu trong tỉnh về công cuộc cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp đạt kết quả tốt. Từ năm 1961-1975 với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhân dân thị xã Vĩnh Yên không quản ngày đêm, vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh chống lại cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của kẻ thù để sản xuất và chiến đấu. Với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, trong suốt 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Yên luôn hoàn thành tốt các nghĩa vụ đóng góp của hậu phương đối với tiền tuyến, nhiều năm vượt chỉ tiêu trên giao. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thị xã Vĩnh Yên có 2.300 thanh niên tham gia bộ đội, 300 thanh niên xung phong, 420 người tham gia dân công hỏa tuyến. Tại địa phương có 360 người tham gia dân quân, tự vệ bằng 13% dân số vừa làm nhiệm vụ sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

Để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, quân và dân thị xã đã xây dựng 27 trận địa phòng không, đào 3.000m giao thông hào, làm 4.500 hầm trú ẩn. Lực lượng dân quân, tự vệ thị xã Vĩnh Yên đã nhiều lần nổ súng bắn máy bay Mỹ khi chúng xâm phạm vùng trời thị xã, làm thất bại âm mưu đánh phá của địch, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực bắn rơi máy bay Mỹ tại địa phương. Thành tích nổi bật của dân quân, tự vệ thị xã là đảm bảo an toàn tuyệt đối huyết mạch giao thông trên quốc lộ số 2 và đường sắt Hà Nội-Lào Cai chạy qua địa phận thị xã sau mỗi lần bị địch đánh phá.

Với những thành tích nổi bật trên mặt trận sản xuất và chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thị xã Vĩnh Yên được Chính phủ tặng thưởng 466 Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, 678 Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, 686 Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, 405 Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, 412 Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì cho những cá nhân có nhiều đóng góp cho cuộc kháng chiến. Hàng trăm Bằng khen, Giấy khen, Cờ của cấp trên tặng cho các đoàn thể và đơn vị của thị xã.

 

Nguồn: Lịch Sử Đảng bộ thành phố

Các tin đã đưa ngày: