ĐẢNG BỘ THỊ XÃ VĨNH YÊN LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN 2 NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1976-1986)

05/10/2017

1. Đại hội Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên lần thứ X và XI lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế-xã hội theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976-1980)

Đại thắng mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy hy sinh gian khổ của dân tộc ta. Đất nước được thống nhất, giang sơn được thu về một mối. Với sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân cả nước bước vào một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Hơn một năm, sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng được tiến hành tại thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976. Đại hội đã tổng kết toàn bộ cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công tác lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới. Đại hội đã đề ra đường lối chung và đường lối phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đại hội thông qua kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ II (1976-1980), nhằm xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH, hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện một bước đời sống của nhân dân.

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II đã xác định phương hướng nhiệm vụ trong những năm (1976-1980) là: “Phát huy truyền thống cách mạng, cùng với những bài học kinh nghiệm quý báu trong 20 năm cải tạo, xây dựng CNXH và đấu tranh chống Mỹ cứu nước, động viên mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nỗ lực tổ chức lại sản xuất cải tiến quản lý, tăng năng suất lao động, phát triển mạnh mẽ kinh tế văn hóa ở địa phương”. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, để chuẩn bị tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu thị xã lần thứ X (vòng 1) từ ngày 28 đến ngày 30/10/1975. Về dự Đại hội có 90 đại biểu thay mặt cho gần 1.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Với niềm tin, phấn khởi, tự hào Đại hội đã tập trung giải quyết 4 nhiệm vụ được đặt ra cho Đại hội là:

- Nghiên cứu, thảo luận, bổ sung ý kiến vào báo cáo chính trị và phương hướng nhiệm vụ cụ thể của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 2.

- Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện công tác 9 tháng đầu năm của Đảng bộ thị xã.

- Nghiên cứu bài phát biểu của đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy về những kinh nghiệm bước đầu xây dựng CNXH ở tỉnh.

- Cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II.

Từ ngày 27 đến tháng 10 ngày 01/11/1976, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ X (vòng 2). Nhiệm vụ của Đại hội lần này là thảo luận bản dự thảo sửa đổi Điều lệ Đảng; kiểm điểm công tác của nhiệm kỳ IX và xây dựng phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ thị xã năm 1977 và những năm tới, bầu BCH Đảng bộ thị xã nhiệm kỳ X gồm 17 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết, bầu Ban Thường vụ thị xã gồm 7 đồng chí, đồng chí Nguyễn Của được bầu làm Bí thư. Đồng chí Kim Văn Nghê được bầu làm Phó Bí thư.

Báo cáo chính trị, phần kiểm điểm thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ nhiệm kỳ IX đã khẳng định Đảng bộ và nhân dân thị xã đã có những cố gắng vượt bậc, vượt qua mọi khó khăn phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu do Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ IX đề ra.

Sản xuất nông nghiệp mặc dù năm 1975 thời tiết không thuận lợi, mưa to làm lụt úng, rồi lại hạn hán, rét đậm kéo dài làm cho năng suất sản lượng nông nghiệp bị tụt so với năm 1974, so với kế hoạch chỉ đạt 80%. Nhưng vụ Đông-Xuân năm 1976, diện tích cấy lúa đã vượt 1,3% kế hoạch, năng suất lúa tăng 20,3%. Tổng sản lượng tăng 16,3% (169 tấn) so với kế hoạch. Cây thực phẩm năm 1975 đạt 10.144 tấn. Năm 1976, diện tích cây lương thực là 1.381 ha, trong đó cây lúa là 1.144 ha; tổng sản lượng lương thực là 3.240 tấn, trong đó sản lượng lúa là 1.281 tấn.

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, năm 1975 giá trị tổng sản lượng tăng hơn năm 1974 từ 1 đến 3%. Về thương nghiệp, 6 tháng đầu năm 1976 thu mua thực phẩm tăng từ 20-30%, hàng hóa tăng 20% so với 6 tháng đầu năm 1975.

Công tác giáo dục, nhìn chung được đánh giá là đạt chất lượng khá. Kết quả thi tốt nghiệp năm học 1975-1976 cấp I tỷ lệ đỗ đạt 95%, cấp II đỗ 84%, cấp III đỗ 91% và bổ túc văn hóa đỗ 100%. Thành tích nổi bật của thị xã là tiếp tục được tỉnh công nhận là đơn vị có nhiều năm đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp, giữ vững danh hiệu là lá cờ đầu của quân khu về công tác quân sự địa phương và được nhận cờ thưởng của Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ nhất.

Phần phương hướng nhiệm vụ năm 1977 và những năm tới được Đại hội xác định: “Phải nhanh chóng chuyển thị xã thành khu vực sản xuất thực phẩm theo hướng chuyên canh, sản xuất lớn XHCN. Ra sức phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thực hiện tốt mọi nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước, làm tốt công tác quân sự trị an, lưu thông phân phối, giao thông vận tải, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa xã hội, tăng nhanh các phúc lợi công cộng, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước xây dựng thị xã giàu đẹp”.

Bước vào thực hiện phương hướng nhiệm vụ do nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã đề ra trong điều kiện đất nước hòa bình, có điều kiện để tập trung nguồn nhân lực để phát triển kinh tế-xã hội. Địa phương không còn phải tập trung đóng góp nhiều sức người, sức của như những năm còn chiến tranh. Song, bên cạnh thuận lợi, Đảng bộ và nhân dân thị xã cũng như nhiều địa phương trong tỉnh và cả nước đứng trước những khó khăn thách thức không nhỏ. Đó là hậu quả của cuộc chiến tranh đã để lại rất nặng nề đối với đời sống kinh tế, xã hội ở địa phương. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, vật tư thiếu thốn, trong khi đó diễn biến thời tiết lại thất thường như rét đậm, nắng hạn, sâu bệnh… thường xuyên xảy ra gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.

Được sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Vĩnh Phú, Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980) do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đề ra.

Tiếp tục thực hiện những chủ trương, biện pháp mà Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ X đề ra, đồng thời quán triệt sâu sắc những quan điểm, định hướng xây dựng đất nước của Trung ương và của Tỉnh ủy, thị xã Vĩnh Yên đã đẩy mạnh cuộc vận động tổ chức lại sản xuất và tiếp tục cải tiến quản lý trong sản xuất nông nghiệp cũng như thủ công nghiệp. Xu hướng chung là từng bước xây dựng các HTX có quy mô lớn, tiến lên làm ăn lớn XHCN. Cùng với việc mở rộng quy mô, Đảng bộ thị xã đã chỉ đạo tổ chức lại sản xuất trong các HTX, bố trí lại lao động, xây dựng lại phương hướng sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất, hình thành các đội chuyên trong sản xuất nông nghiệp. Đi đôi với việc chấn chỉnh lại bộ máy quản lý, Đảng bộ đã quan tâm đến công tác lãnh đạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nên tình hình sản xuất trên địa bàn thị xã nhanh chóng có những chuyển biến tích cực, mặc dù tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, chiến tranh biên giới xảy ra ở Tây Nam và sau đó là biên giới phía Bắc.

Trong nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng cây lương thực năm 1977 toàn thị xã đạt 1.308 ha, trong đó diện tích lúa cả năm có 1.046 ha, năm 1978 tăng lên 1.433 ha, trong đó diện tích lúa là 1.086 ha. Năm 1979, tổng diện tích gieo trồng tăng 8% so với năm 1978.

Năng suất lúa năm 1977 đạt 2.089 kg/ha, năm 1978 đạt 2.327 kg/ha. Năng suất ngô năm 1977 đạt 40 kg/sào, năm 1978 đạt 47 kg/sào. Năng suất đậu các loại năm 1977 đạt 148 kg/ha, năm 1978 đạt 180 kg/ha. Năng suất khoai tây năm 1977 đạt 1.687 kg/ha, năm 1978 đạt 3.200 kg/ha. Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 1977 đạt 2.467 tấn, năm 1978 đạt 2.976 tấn. Riêng thóc năm 1977 đạt 2.195 tấn, năm 1978 đạt 2.528 tấn. Tổng sản lượng lương thực năm 1979 đạt 3.187 tấn, tăng 10% so với năm 1978.

Về chăn nuôi, tổng số đàn trâu toàn thị xã năm 1977 có 578 con, trong đó diện cày kéo có 472 con. Năm 1978 có 653 con, trong đó trâu cày kéo có 571 con, năm 1979 có 907 con. Đàn bò năm 1977 có 325 con, trong đó cày kéo có 233 con, năm 1979 có 576 con. Tổng đàn lợn trên 2 tháng tuổi cuối năm 1977 có 4.462 con, năm 1978 có 4.483 con, trong đó lợn nái có 566 con; năm 1979 đàn lợn có 5.550 con. Qua số liệu cho thấy mặc dù trong điều kiện khó khăn nhưng với quyết tâm của Đảng bộ, ngành chăn nuôi thị xã vẫn giữ được ổn định và có bước phát triển. Song chủ yếu là chăn nuôi ở khu vực tập thể. Trong 2 năm 1978-1979, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn về khách quan và chủ quan nhưng trồng trọt và chăn nuôi đều tăng. Tổng giá trị năm 1978 đạt 1,638 triệu đồng, tăng hơn năm 1977 là 26.368 đồng. Năm 1979 đạt 1,865 triệu đồng, tăng 181 nghìn đồng so với năm 1978.

Về sản xuất công nghiệp trong điều kiện khó khăn về nhiều mặt, nhất là về điện (có thời gian phải cắt 3-4 tháng) nhưng cơ sở sản xuất công nghiệp đã khắc phục khó khăn, tự lo nguyên vật liệu, mua sắm thêm các thiết bị và các vật tư kỹ thuật, xây dựng phương thức sản xuất thích hợp với tình hình, nên nhiều xí nghiệp vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, tiêu biểu như xí nghiệp Vôi.

Ngành thủ công nghiệp cũng có nhiều tiến bộ vươn lên trong khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, do đó giá trị tổng sản lượng vẫn có sự tăng trưởng. Tổng sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp năm 1977 đạt 12.103 nghìn đồng, trong đó công nghiệp đạt 9.976 nghìn đồng, thủ công nghiệp đạt 2.127 nghìn đồng. Năm 1978, tổng sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp đạt 15.571 nghìn đồng, trong đó công nghiệp đạt 11.091 nghìn đồng, thủ công nghiệp đạt 4.480 nghìn đồng. Năm 1979, tổng sản lượng công nghiệp đạt 3.588.379 đồng so với kế hoạch đạt 128%. Với kết quả trên, Vĩnh Yên được tỉnh xếp là đơn vị khá. Ngành thủ công nghiệp căn cứ vào nhu cầu cuộc sống của nhân dân để phát triển các mặt hàng mới phục vụ tiêu dùng như gạch xỉ, nước chấm, mành trúc, thêu ren. Mặt khác, một số đơn vị đã thực hiện hợp đồng ký kết mua nguyên liệu bán thành phẩm cho các cơ quan Nhà nước, nhất là ký kết hợp đồng với quốc phòng làm hàng vạn chăn bông hàng năm để giải quyết công ăn việc làm cho xã viên, đồng thời tăng thêm tích lũy cho tập thể, tăng đóng góp cho Nhà nước. HTX Ngô Quyền và Thống Nhất đã hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước trước hai tháng. Tuy vậy, sản xuất còn nhiều tồn tại như một số cơ sở sản xuất thủ công nghiệp chưa nỗ lực vươn lên, một số mặt hàng đạt thấp. Việc quản lý tiền vốn, vật tư trong các HTX thủ công chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng để mất nguyên liệu. Một số chỉ tiêu kinh tế đạt thấp. Hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội có nguy cơ phát triển.

Cùng với sự phát triển kinh tế, Đảng bộ thị xã luôn quan tâm đến lĩnh vực văn hóa xã hội. Mặc dù vốn đầu tư của Nhà nước cho xây dựng cơ bản rất hạn chế nhưng với nguồn vốn của địa phương, thị xã đã tập trung một nguồn kinh phí lớn xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục và y tế. Đảm bảo cho hai lĩnh vực này giữ vững và ổn định phát triển bình thường. Trong giáo dục, phong trào thi đua “Hai tốt” xây dựng trường tiên tiến, xây dựng tổ lao động xã hội chủ nghĩa trong tập thể giáo viên vẫn được duy trì thường xuyên. Các ngành học từ mẫu giáo, bổ túc văn hóa và phổ thông vẫn được duy trì. Kết quả, học sinh tốt nghiệp cấp II đạt 95%, thi tốt nghiệp cấp III đạt 99,5%. Tỉ lệ học sinh lên lớp đạt 94% trở lên. Từ năm 1979, thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 14/1/1979 về cải cách giáo dục. Ngành giáo dục thị xã bước đầu thực hiện phương châm học đi đôi với hành, kết hợp cả ba yếu tố trong giáo dục là nhà trường, gia đình, xã hội để giáo dục đạo đức cho học sinh. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực giáo dục của thị xã trong những năm này được tỉnh đánh giá là đơn vị khá. Công tác y tế tập trung vào việc động viên nhân dân ăn ở hợp vệ sinh như phong trào “Ba sạch” (ăn sạch, ở sạch, uống sạch) và xây dựng ba công trình vệ sinh. Phong trào thể dục thể thao phát triển tương đối đồng đều ở tất cả các đơn vị cơ sở. Qua bình xét, xếp loại có 8/9 đơn vị của thị xã đạt danh hiệu tiên tiến về phong trào thể dục thể thao.

Sau ngày đất nước được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức được đầy đủ nhiệm vụ của thời kỳ cách mạng mới, mặc dù trong điều kiện hòa bình Thị ủy Vĩnh Yên vẫn chú trọng về công tác quân sự địa phương, phát triển lực lượng dân quân, tự vệ. Năm 1975, lực lượng dân quân tự vệ thị xã đạt 10%, năm 1976 đạt 72%, năm 1977 đạt 78%. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc và nhất là khi có lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng, lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước năm 1979 thì công tác quân sự địa phương được tăng cường hơn nhằm đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu khi chiến tranh xảy ra.

Quan điểm của Thị ủy về xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải xây dựng thị xã thành một đơn vị kinh tế nông, công, lâm nghiệp toàn diện, xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh, thực sự là pháo đài quân sự của chiến tranh nhân dân tại chỗ, sẵn sàng đối phó hiệu quả khi chiến tranh xảy ra trong tình hình mới.

Do làm tốt công tác quân sự địa phương nên khi chiến tranh biên giới xẩy ra, thị xã đã sử dụng lực lượng này để tham gia xây dựng phòng tuyến ở các tỉnh biên giới và xây dựng phòng tuyến tại địa phương đạt kết quả tốt. Công tác tuyển quân hàng năm thị xã đều đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Tính đến năm 1979 liên tục là năm thứ 14 thị xã được tỉnh cấp Bằng khen về công tác tuyển quân.

Bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đề ra, với 4 mục tiêu là xây dựng chế độ mới, nền văn hóa mới và con người mới. Đảng bộ thị xã đã xác định, để làm tốt 4 mục tiêu trên, trước hết phải làm tốt công tác xây dựng Đảng vững mạnh trên cả ba mặt là chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đối với công tác chính trị tư tưởng, Thị ủy tập trung triển khai quán triệt sâu sắc các quan điểm đường lối phát triển kinh tế, đường lối xây dựng CHXN trên phạm vi cả nước trong những năm 1976-1980, do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đề ra và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ II (4/1976), lần thứ III (5/1977) và lần thứ IV (12/1979) đến từng cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ để thống nhất về mặt nhận thức tư tưởng. Để cụ thể hóa nhiệm vụ của Trung ương và của tỉnh đề ra. Đại hội Đảng bộ lần thứ XI (vòng 1 từ ngày 7 đến ngày 8/12/1979, vòng 2 từ ngày 6 đến ngày 9/5/1980). Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XI đã bầu BCH với 22 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Bầu Ban Thường vụ gồm 9 đồng chí, đồng chí Trần Điềm được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Huy Lê và Tạ Văn Bài được bầu làm Phó Bí thư.

Qua mỗi lần Đại hội Đảng bộ đã xây dựng kế hoạch thực hiện từng phần của kế hoạch 5 năm và mỗi nhiệm kỳ đều có đánh giá kết quả thực hiện và rút ra bài học kinh nghiệm để nhiệm kỳ sau thực hiện tốt hơn. Quán triệt Nghị quyết 23 và 25 của Trung ương, Nghị quyết 77 của Tỉnh ủy Vĩnh Phú về công tác cán bộ, Thị ủy Vĩnh Yên đã bố trí cho cán bộ từ thị xã đến cơ sở lần lượt được qua các lớp đào tạo và bồi dưỡng do tỉnh và thị xã tổ chức. Thực hiện Chỉ thị 83 của Ban Bí thư Trung ương về công tác phát thẻ đảng viên, năm 1980 Thị ủy đã tổ chức triển khai sâu rộng chỉ thị trên đến các tổ chức cơ sở Đảng về mục đích, ý nghĩa của đợt phát thẻ này và những tiêu chuẩn đảng viên được phát thẻ đợt một. Do tổ chức tốt việc triển khai chỉ thị trên, công tác phát thẻ trong toàn Đảng bộ đạt kết quả tốt, có ý nghĩa giáo dục đối với đảng viên trong Đảng bộ. Công tác kiểm tra cũng được tiến hành thường xuyên ở các cấp ủy Đảng, góp phần giữ gìn kỷ luật trong Đảng. Qua kiểm tra, từ năm 1976-1980 Đảng bộ đã thi hành kỷ luật nghiêm túc những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng quy định.

Trong nhiệm kỳ Đảng bộ đã triển khai Chỉ thị 72 của Ban Bí thư và Nghị quyết 288 của Bộ Chính trị về công tác chỉnh đốn Đảng một cách rộng rãi trong toàn Đảng bộ nhằm nâng cao chất lượng đảng viên lên một bước. Thông qua những đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng này, chất lượng đảng viên và các tổ chức cơ sở Đảng được nâng lên một bước.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ còn bộc lộ những tồn tại như trình độ nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình chưa cao. Việc chấp hành đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở một số đảng viên chưa được nghiêm túc. Chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng của thị xã được tỉnh đánh giá, xếp loại hàng năm đạt trong sạch vững mạnh chưa nhiều. Cùng với công tác xây dựng Đảng, công tác xây dựng chính quyền cũng đạt được một số kết quả nhất định. Tháng 4/1976 toàn thể cử tri thị xã Vĩnh Yên đã hăng hái tham gia cuộc bầu cử Quốc hội nước Việt Nam thống nhất. Tiếp đó, vào tháng 5/1977 tham gia bầu cử HĐND ba cấp nhiệm kỳ 1977-1979. Sau bầu cử, HĐND, UBHC được kiện toàn từ thị xã đến cơ sở, từng bước chấn chỉnh những tồn tại, nâng cao vai trò quản lý Nhà nước ở địa phương.

Mặt trận Tổ quốc tích cực vận động các tầng lớp nhân dân chấp hành tốt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Hoạt động nổi bật của công tác mặt trận thời kỳ này là tiến hành tổng kết phong trào “Phụ lão ba giỏi” và thành lập các ban mặt trận ở xã, phường.

Đoàn thanh niên với phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” đã thu hút được hàng nghìn đoàn viên thanh niên tình nguyện đi chiến đấu, đi xây dựng phòng tuyến biên giới. Tại địa phương, đoàn viên thanh niên tham gia vào các đội xung kích như làm thủy lợi, làm phân, ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, giữ vững an ninh trật tự ở địa phương. Qua phong trào, đoàn thanh niên đã kết nạp được hàng trăm đoàn viên mới và giới thiệu nhiều đoàn viên ưu tú vào Đảng.

Hội Phụ nữ nổi lên phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Các tổ chức Hội đã động viên chị em khắc phục khó khăn để đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống hội viên, động viên chồng con đi bộ đội và thực hiện tốt các chính sách về hậu phương quân đội.

Hội Nông dân làm tốt công tác hướng dẫn nông dân phát huy quyền làm chủ tập thể của hội viên trong sản xuất, phân phối và chấp hành Điều lệ HTX nông nghiệp.

Sự nghiệp xây dựng CNXH ở địa phương cũng như trong tỉnh và cả nước trong những năm đất nước được hoàn toàn thống nhất (1976-1980) đã đạt được một số thành tựu nhất định, song trên thực tiễn cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế và tồn tại. Nguyên nhân chủ yếu là do đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh lâu dài với những hậu quả nặng nề, sau đó lại phải đối phó với chiến tranh biên giới. Trong khi đó, Đảng và Nhà nước lại mắc một số sai lầm, khuyết điểm chủ quan, nóng vội trong lãnh đạo, quản lý kinh tế và tổ chức thực hiện. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp bắt đầu bộc lộ sự trì trệ. Những thành công và hạn chế trong thời gian (1976-1980) đã đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân cần phải có những điều chỉnh, thay đổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp với tình hình thực tiễn mới.

2. Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XII tiếp tục lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế-xã hội theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981-1985)

Trước tình hình kinh tế-xã hội ngày càng khó khăn, trì trệ và lâm vào khủng hoảng. Trên cơ sở một số địa phương giải quyết khó khăn bằng cách khoán thí điểm trong nông nghiệp đạt hiệu quả tốt. Qua khảo sát thực tiễn, ngày 13/1/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán trong nông nghiệp. Nội dung của chỉ thị là các HTX nông nghiệp tiến hành khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Trong đó, xã viên được đảm nhận trong ba khâu trong quá trình sản xuất là gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch. HTX đảm nhận 5 khâu là làm đất, thủy lợi, giống, phân bón và bảo vệ thực vật. Sản lượng khoán được định trước, phần vượt khoán xã viên được hưởng 100%.

Ngày 21/1/1981, Chính phủ ban hành Quyết định số 25-CP về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Đây là sự đổi mới có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất trong công nghiệp, mở ra một hướng mới “Làm cho sản xuất bung ra”.

Để thực hiện tốt Chỉ thị 100-CT/TW và Quyết định số 25-CP, Thị ủy Vĩnh Yên đã tổ chức triển khai quán triệt một cách sâu rộng đến từng sán bộ, đảng viên và nhân dân để tất cả mọi người nắm vững chủ trương mới của Trung ương về đổi mới kinh tế. Quá trình triển khai Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và Quyết định số 25 của Chính phủ đã được nhân dân đón nhận như một luồng gió mới đầy sinh khí, động lực vượt khoán được người lao động đặt biệt quan tâm. Đây chính là yếu tố tạo ra tốc độ tăng trưởng trong sản xuất ở Vĩnh Yên, khắc phục khó khăn về lương thực của cơ chế cũ trong sản xuất ở địa phương.

Sản xuất thủ công nghiệp từ năm 1981-1985 tuy vẫn còn nhiều khó khăn về nguyên liệu, năng lượng, tiền vốn. Song, với sự lãnh đạo của Thị ủy, UBHC thị xã đã vận dụng những quan điểm đổi mới của Đảng vào thực tiễn địa phương nên liên tục trong những năm này ngành sản xuất thủ công nghiệp của Vĩnh Yên đã hoàn thành vượt mức kế hoạch. Về giá trị tổng sản lượng từ 6,820 triệu đồng năm 1980 tăng lên hơn 16 triệu đồng năm 1984, năm 1985 tăng lên 30 triệu đồng. Trong đó nhóm A từ 9,1 triệu đồng năm 1980 tăng lên 10,67 triệu đồng năm 1984; nhóm B từ 6,810 triệu đồng năm 1980 tăng lên 15,961 triệu đồng năm 1984. Đặc biệt giá trị xuất khẩu tăng nhanh từ 235 nghìn đồng năm 1980 tăng lên 635 nghìn đồng năm 1984.

Nhiều mặt hàng mới được phát triển như dệt xô màn, thổi màng mỏng, dũa công nghiệp, vải giả da, thuộc da, cốt mũ, xà phòng giặt, bao tải đay… Những mặt hàng truyền thống được ổn định và ngày càng phát triển như khung xe đạp, cào, răng bừa, dõng rãnh cày, bu lông cải tiến, mành trúc xuất khẩu, can các loại. Do sản phẩm phát triển ngày càng đa dạng mà các tổ sản xuất được nâng lên thành HTX như HTX may mặc. Thống Nhất được phát triển thêm mặt hàng dệt bao tải và màn xô. HTX Trường Sơn làm dép nhựa, vải giả da, may áo bạt, cặp sách. HTX Quyết Tiến mở rộng sản xuất khung xe đạp. HTX Vĩnh Thành sản xuất dũa công nghiệp, mặt hàng này được tuyển chọn để tham gia hội chợ thành tựu kỹ thuật tại Hà Nội được tặng Huy chương và được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm năm 1985. Đi đôi với sản xuất, trình độ quản lý của các Ban quản lý HTX, trình độ quản lý của các cán bộ lãnh đạo ở các HTX cũng được nâng lên.

Những kết quả đạt được trên lĩnh vực sản xuất thủ công nghiệp trong thời gian này đã tạo thế đi lên vững chắc, xứng đáng là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thị xã. Song, tồn tại cần phải khắc phục là mối quan hệ giữa Nhà nước và HTX về sản xuất và cung ứng vật tư chưa tốt, ý thức trách nhiệm đối với việc thực hiện những chỉ tiêu sản phẩm chủ yếu chưa được đề cao, còn để một số chỉ tiêu sản phẩm đạt thấp như gạch đạt 50%, ngói 70%, nước chấm 50%. Việc quản lý vật tư, tài sản chưa tốt. Việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất là cái nền để củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong những năm qua còn yếu.

Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW, quyền làm chủ của nhân dân lao động là xã viên trong HTX nông nghiệp được phát huy hơn, bắt đầu đi vào làm ăn có kế hoạch và có chất lượng. Sản xuất lương thực, năng suất bình quân đạt từ 4.400-4.900 kg/ha, sản lượng bình quân hàng năm là 3.198 tấn, so với năm 1980 tăng 300 tấn, so với kế hoạch tỉnh giao đạt 95% trở lên, năm sau cao hơn năm trước bình quân 260 tấn. Thóc tăng bình quân 290 tấn, mức ăn bình quân 12 kg thóc/ người/ tháng. Sản xuất lương thực bình quân một người đạt 288 kg/năm.

Do sản xuất phát triển, địa phương đã hoàn thành tốt nghĩa vụ đóng góp đối với Nhà nước, liên tục được Nhà nước tặng cờ và Bằng khen. Năm 1982, thị xã đã hoàn thành 370 tấn lương thực, năm 1985 hoàn thành 810 tấn. Diện tích cây công nghiệp từ 13 ha năm 1981 tăng lên 60 ha năm 1984. Bình quân đầu người về giá trị xuất khẩu năm 1984 là 8 Rúp-đô la. Về chăn nuôi, tổng đàn trâu, bò, lợn đều đạt so với kế hoạch tỉnh giao; đàn trâu bò có 1400 con, lợn 5000 con.

Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp trong 5 năm chưa vững chắc, chưa coi trọng cây màu. Năng suất lúa chưa đạt 5 tấn thóc/ha. Mức bình quân lương thực một khẩu nông nghiệp mới ở mức 12 kg/tháng. Việc sắp xếp bố trí cơ cấu chưa hợp lý giữa trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề. Nhiều cơ sở vật chất của tập thể như nhà kho, sân phơi, chuồng trại… chưa được đảm bảo tốt, còn để xuống cấp nhanh. Trong chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 100 có lúc, có nơi còn khoán trắng, buông trôi gây khó khăn cho người nhận khoán. Hiện tượng lấn đất của công làm nhà chưa được ngăn chặn kịp thời. Chăn nuôi ở khu vực tập thể tăng chậm và còn để chết 130 con trâu bò, 35 con lợn.

Về lâm nghiệp, thực hiện Nghị quyết 24 của Tỉnh ủy về trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, nhân dân thị xã đã tiến quân lên vùng đồi và bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ. Năm 1982, toàn thị xã trồng được 60 ha cây tập trung, năm 1983 trồng 61 ha, năm 1984 trồng được 101 ha. Tổng diện tích cây tập trung sau 5 năm trồng được là 243 ha/518 ha đất lâm nghiệp. Nhìn chung tiềm năng về lâm nghiệp của thị xã còn lớn, cần phải có cơ chế khoán thích hợp và phối hợp giữa các thành phần quốc doanh, tập thể và gia đình trong việc trồng, chăm sóc và bảo vệ.

Nguyên nhân đạt được kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981-1985) là Thị ủy Vĩnh Yên đã vận dụng đúng đắn các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương vào thực tiễn địa phương, đã sớm xác định được cơ cấu kinh tế và đề ra được phương hướng sản xuất cho từng ngành, trước hết là công nghiệp và chủ yếu là thủ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ. Đạt được kết quả trên còn do nỗ lực của các ngành, cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tự lực, tự cường vươn lên, chủ động, sáng tạo khai thác tiềm năng của địa phương để phát triển.

Công tác văn hóa xã hội, thị xã tiếp tục giữ vững ổn định và có bước phát triển mới. Hàng năm thị xã có những cố gắng lớn đảm bảo chế độ cho hơn 800 cán bộ và 300 thương binh về nghỉ tại địa phương và 615 gia đình liệt sỹ, đồng thời giúp đỡ việc ăn, ở, học hành cho 43 con liệt sỹ.

Ngành giáo dục từ mẫu giáo đến phổ thông đã đáp ứng được nhu cầu học tập của con em ở địa phương. Kết quả học sinh lên lớp, học sinh tốt nghiệp đều đạt cao. Năm học 1981-1982, trường cấp III Trần Phú đạt 100% tốt nghiệp.

Ngoài thư viện thị xã, hầu hết các phường, xã đều xây dựng được thư viện. Số báo phục vụ theo yêu cầu cho nhân dân ngày càng tăng lên. Đài truyền thanh thị xã và các trạm truyền thanh ở các phường, xã đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời đến nhân dân những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt nghĩa vụ của mình.

Ngành y tế có nhiều cố gắng trong việc khám, chữa bệnh cho nhân dân. Với phương châm phòng bệnh là chính, các trạm xá xã, phường đều xây dựng được một vườn thuốc nam, kết hợp đông, tây y trong chữa trị những bệnh thông thường cho nhân dân ở địa phương đạt kết quả tốt.

Phong trào vệ sinh cơ quan, vệ sinh đường phố được các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn kết hợp với địa phương làm tốt. Các công trình vệ sinh về cơ bản hoàn thành ở các địa phương. Phong trào thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình được tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ và nhân dân về các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch, phấn đấu đến hết năm 1985 giảm tỷ lệ sinh của thị xã xuống còn 1,8%, mỗi cặp vợ chồng không quá 2 con.

Công tác an ninh quốc phòng được các cấp ủy Đảng quan tâm chỉ đạo chặt chẽ. Từ năm 1983, thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 01 của Tỉnh ủy Vĩnh Phú, lực lượng an ninh ở địa phương tiếp tục được củng cố và đẩy lên ở mức độ cao hơn. Mạng lưới tổ an ninh nhân dân, phong trào quần chúng phát giác, phát hiện kẻ gian, làm ăn phi pháp đã góp phần ngăn chặn bọn tội phạm, hạn chế tệ nạn xã hội phát triển. Được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng an ninh đã làm tốt công tác quản lý thị trường, đấu tranh chống buôn lậu, đầu cơ đạt kết quả tốt.

Công tác quân sự địa phương tập trung vào việc củng cố, phát triển lực lượng dân quân, tự vệ theo mô hình mới đảm bảo lực lượng chiến đấu tại chỗ, lực lượng phục vụ chiến đấu khi có tình huống xẩy ra. Đồng thời đảm bảo lực lượng bổ sung cho quân đội thường trực hàng năm. Lực lượng dân quân, tự vệ hàng năm được tổ chức huấn luyện về chính trị, kỹ thuật, chiến thuật và các phương án tác chiến đối phó với mọi tình huống. Phong trào thi đua xây dựng đơn vị quyết thắng tiếp tục được duy trì ở địa phương. Năm 1981, toàn thị xã có 13 đơn vị đạt danh hiệu quyết thắng, năm 1982 tăng lên 14 đơn vị, năm 1985 có 15 đơn vị. Tuy là địa bàn phức tạp về chính trị xã hội, nhưng do làm tốt công tác an ninh quốc phòng nên từ năm 1981-1985 về cơ bản địa bàn thị xã được ổn định, không để xảy ra những vụ việc lớn.

Cùng với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, công tác xây dựng Đảng cũng có nhiều chuyển biến tốt. Năm 1981, toàn Đảng bộ thị xã có 60 chi, đảng bộ cơ sở với 2000 đảng viên. Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ của trên đề ra, Thị ủy đã hướng dẫn các chi, đảng bộ xây dựng các chương trình công tác cụ thể, đưa cán bộ đảng viên tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội. Nhìn chung sự cố gắng, gương mẫu của cán bộ đảng viên đã có tác dụng động viên, giáo dục quần chúng hoàn thành tốt nhiệm vụ ở địa phương. Tiêu biểu về công tác xây dựng Đảng ở thị xã từ 1981-1985 là các Đảng bộ xí nghiệp Dược phẩm, Vôi, In, xã Định Trung, thị trấn Tam Đảo, trường Trung học giao thông…

Từ ngày 28/12 đến ngày 31/12/1981, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XII (vòng 1) tại hội trường UBHC thị xã. Về sự Đại hội có 120 đại biểu đại diện cho 2000 đảng viên của 63 chi, đảng bộ cơ sở. Nhiệm vụ của Đại hội là tập trung thảo luận tham gia góp ý kiến vào báo cáo chính trị (dự thảo) của Ban chấp hành Trung ương chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V. Kiểm điểm lãnh đạo của Đảng bộ sau hơn 1 năm thực hiện nghị quyết lần thứ XI của Đảng bộ thị xã, xây dựng phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ nhiệm kỳ XII. Đại hội có 432 ý kiến tham gia vào bản dự thảo báo cáo chính trị của BCH Trung ương trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có nhiều kiến nghị với Trung ương cần có biện pháp tăng cường pháp chế XHCN, vai trò của Nhà nước và công tác xây dựng Đảng.

Từ ngày 15/12 đến ngày 19/12/1982, Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XII (vòng 2) được tiến hành. Đại hội đã tổng kết nhiệm kỳ XI và xây dựng phương hướng nhiệm vụ của nhiệm kỳ XII và bầu BCH Đảng bộ khóa XII gồm 30 ủy viên, trong đó có 1 dự khuyết, bầu Ban Thường vụ gồm 9 đồng chí, đồng chí Trần Điềm được bầu làm Bí thư Đảng bộ thị xã. Đồng chí Nguyễn Huy Lê và Tạ Văn Bài được bầu làm Phó Bí thư.

Phương hướng công tác trong nhiệm kỳ Đảng bộ thị xã tiếp tục tập trung vào việc triển khai thực hiện Chỉ thị 83-CT/TW về phát thẻ đảng viên. Thông qua đợt sinh hoạt chính trị này chất lượng về tư tưởng, ý thức chính trị, trách nhiệm, vai trò của người đảng viên được nâng lên rõ rệt. Phong trào xây dựng chi, đảng bộ vững mạnh được các tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ chú trọng.

Công tác cán bộ luôn được Đảng bộ quan tâm từ công tác quy hoạch đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt đến việc đề bạt, đào tạo bồi dưỡng. Từ năm 1981-1985, thị xã đã tổ chức cho hàng trăm lượt cán bộ đảng viên theo học các lớp bồi dưỡng về văn hóa, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ của thị xã và của tỉnh tổ chức.

Công tác phát triển đảng viên mới được tiến hành thường xuyên, bình quân hàng năm Đảng bộ kết nạp hàng trăm đảng viên mới. Lãnh đạo đi đôi với công tác kiểm tra là nguyên tắc của Đảng được Đảng bộ duy trì thường xuyên. Qua việc triển khai Chỉ thị 83 và Thông tri số 126, Thị ủy tiến hành kiểm tra ở tất cả các chi, đảng bộ trong thị xã. Qua kiểm tra đã xử lý kỷ luật nhiều đảng viên vi phạm và đã đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi hàng ngũ của Đảng. Riêng hai năm 1981-1982, Đảng bộ đã thi hành kỷ luật 116 đảng viên. Năm 1984-1985 thi hành kỷ luật 165 đảng viên, trong đó khai trừ và xóa tên 72 đảng viên. Năm 1982 tiến hành phân loại đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đảng viên loại 1 có 687 đồng chí, bằng 35%; loại 2 có 1.163 đồng chí, bằng 59%; loại 3 có 93 đồng chí, bằng 5%; loại 4 có 13 đồng chí, bằng 0,6% trong tổng số 1.956 đảng viên dự phân loại. Số chi, đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh có 11 đơn vị, khá có 42 và yếu có 3 đơn vị.

Công tác xây dựng Đảng trong 5 năm (1981-1985) bên cạnh những kết quả đạt được, Đảng bộ thị xã cũng còn những tồn tại cần phải tập trung khắc phục như: Công tác xây dựng Đảng chưa thật gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Do đó, dẫn tới nhận thức của một số đảng viên chưa theo kịp với yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, còn có biểu hiện tư tưởng ỷ lại, trông chờ, thiếu chủ động sáng tạo. Một số đảng viên còn có tư tưởng thiếu tích cực làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Một số cơ sở công tác Đảng và công tác chuyên môn còn chồng chéo. Công tác chỉ đạo nhiều khi còn chung chung, thiếu cụ thể, thiếu sâu sát, dẫn tới thực hiện kết quả thấp.

Công tác chính quyền, từ khi được phân cấp đã tiến hành sắp xếp lại, xác định rõ chức năng nhiệm vụ, cấp huyện, thị là cấp quản lý kế hoạch, ngân sách. HĐND và UBHC thị xã thể hiện rõ là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương đi sâu vào chức năng quản lý kinh tế xã hội bằng pháp luật, giữ vững bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhìn chung sau mỗi nhiệm kỳ củng cố, bộ máy chính quyền các cấp đã được nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước ở địa phương.

Các tổ chức đoàn thể quần chúng như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân tập thể cùng với Mặt trận Tổ quốc phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên, thành viên tham gia các hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương và các phong trào do ngành tổ chức như phong trào “3 xung kích làm chủ tập thể” trong thanh niên; phong trào thi đua “Xây dựng người phụ nữ mới” XHCN và phong trào trồng cây của các cụ phụ lão… Các đoàn thể quần chúng đã động viên nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là các chính sách xã hội ở địa phương như tuyển quân, ủng hộ đồng bào biên giới, giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sỹ, xây dựng quỹ bảo thọ, vận động nhân dân mua công trái, thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, xây dựng đời sống văn hóa mới…

Sau ngày đất nước thống nhất, 10 năm cùng cả nước đi lên xây dựng CNXH trong điều kiện còn khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, do cơ chế quản lý quan liêu tập trung bao cấp còn nặng nề, đã hạn chế công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Song, những kết quả đạt được nhất là trên lĩnh vực kinh tế sau khi có chủ trương khoán trong nông nghiệp và chính sách mới trong công nghiệp và thủ công nghiệp của Đảng đã thể hiện và khẳng định tính năng động, chủ động sáng tạo của Đảng bộ thị xã. Những kết quả trên là cơ sở để Đảng bộ và nhân dân thị xã bước vào thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ở chặng đường tiếp theo.

Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thành phố 1928-2014