ĐẢNG BỘ THỊ XÃ VĨNH YÊN LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986-2000)

05/10/2017

1. Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XIII và lần thứ XIV lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối đổi mới theo nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986-1990)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng được tiến hành vào tháng 12/1986 tại thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội lịch sử đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng về mặt nhận thức, về tư duy lý luận của Đảng ta về con đường đi lên xây dựng CNXH ở nước ta.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật. Đại hội cho rằng “Trong 10 năm qua đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế([1]).

Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng, kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. “Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế là bệnh chủ quan duy y chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”, “Những sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế-xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng” do “sự lạc hậu về nhận thức, lý luận về vận dụng các quy luật lấy hoạt động trong thời kỳ quá độ([2]).

Để khắc phục những sai lầm, khuyết điểm tiếp tục đưa đất nước đi lên CNXH, Đảng ta chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Nghị quyết Đại hội VI chỉ rõ: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế-xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa trong những năm tiếp theo. Trước mắt là trong 5 năm (1986-1990) tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được mục tiêu 3 chương trình kinh tế: Lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Thừa nhận sự tồn tại lâu dài của một số thành phần kinh tế, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Đường lối đổi mới của Đảng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo ra động lực to lớn để Đảng bộ và nhân dân các địa phương vượt qua khó khăn, ổn định tình hình kinh tế, xã hội, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

Đối với thị xã Vĩnh Yên, kết thúc kế hoạch nhà nước 5 năm (1981-1985) tuy vẫn còn những khó khăn nhưng sau khi có chủ trương đổi mới của Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp và chính sách khuyến khích trong công nghiệp, tình hình kinh tế-xã hội bắt đầu có những chuyển biến tích cực. Trong sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư nhiều hơn, sản phẩm làm ra ngày càng phong phú. Những kết quả đạt được đã thể hiện tính năng động, chủ động, sáng tạo của Đảng bộ thị xã trong quá trình vận dụng những chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương.

Năm 1986 là năm diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng. Từ giữa năm 1986 các tổ chức Đảng trong toàn quốc triển khai đợt phê bình và tự phê bình theo Chỉ thị 79 của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Đây là đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng bộ chuẩn bị cho quá trình tổ chức Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị 79 của Đảng, Thị ủy Vĩnh Yên đã hướng dẫn, chỉ đạo cho các cơ sở Đảng, tổ chức cho từng cán bộ, đảng viên kiểm điểm sâu sắc quá trình thực hiện nhiệm vụ của người đảng viên và rút ra những điểm mạnh yếu để từ đó có phương hướng phấn đấu tốt hơn. Đồng thời mỗi đảng viên đều phải có trách nhiệm tham gia góp ý với đồng chí và tổ chức Đảng các cấp về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành về lề lối làm việc của chi ủy, chi bộ và BCH Đảng bộ…

Trong quá trình tiến hành Đại hội ở cơ sở tập trung vào 4 yêu cầu đặt ra là: Nghiên cứu thảo luận đề cương báo cáo chính trị của BCH Trung ương khóa V Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI; đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội ở địa phương; xây dựng nghị quyết phù hợp với thực tiễn, bầu BCH khóa mới thực sự có năng lực…

Thắng lợi của Đại hội Đảng ở cơ sở là điều kiện tốt để Thị ủy Vĩnh Yên tiến hành tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIII từ ngày 29/9 đến ngày 03/10/1986. Về dự Đại hội có 100 đại biểu thay mặt cho 2.079 đảng viên của 52 chi, đảng bộ cơ sở. Nội dung của Đại hội tập trung vào 5 nội dung cơ bản:

- Tham gia vào văn kiện dự thảo của Trung ương chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.

- Tham gia vào báo cáo chính trị dự thảo của Tỉnh ủy chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.

- Kiểm điểm công tác của Đảng bộ thị xã trong nhiệm kỳ 1982-1985.

- Đề ra phương hướng nhiệm vụ của nhiệm kỳ XIII (1986-1988).

- Bầu BCH khóa XIII và bầu đại biểu đi dự Đại hội cấp trên.

Phần thảo luận, đóng góp với văn kiện của Trung ương và của tỉnh, ý kiến của đại biểu tập trung vào hai nội dung: Một là đề nghị báo cáo chính trị phải đánh giá cho đúng tình hình thực trạng của đất nước, của tỉnh và những nguyên nhân của sự yếu kém; hai là tán thành, ủng hộ những quan điểm đổi mới của Trung ương và của tỉnh tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Với tinh thần trách nhiệm trước Đảng bộ và nhân dân, Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XIII đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng tình hình địa phương, trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ vận dụng những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng được đề cập trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và báo cáo chính trị của Đảng bộ tỉnh. Xác định rõ cơ cấu kinh tế của thị xã là công, nông, lâm nghiệp và dịch vụ, trong đó lấy phát triển thủ công nghiệp làm mũi nhọn. Với tinh thần công nghiệp phải hiện đại, thủ công nghiệp phải tinh xảo.

Định hướng chính trị cho phát triển công nghiệp là xác định phương hướng kinh doanh, có định mức kinh tế, kỹ thuật sát, đúng, tăng cường đầu tư khoa học kỹ thuật cho sản xuất, cải tiến công cụ và quy trình sản xuất, tận dụng cao nhất công suất máy móc nhằm hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao và tham gia phát triển kinh tế địa phương. Về sản xuất thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phấn đấu đạt tổng giá trị sản lượng năm 1987 là 35 triệu, năm 1988 là 38 triệu đến 40 triệu.

Đối với sản xuất nông nghiệp, phấn đấu đảm bảo tổng diện tích gieo trồng năm 1987 là 2040 ha, năm 1988 là 2150 ha. Năng suất hai vụ đạt 5,5 tấn/ha năm 1987, 6 tấn/ha năm 1988. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt từ 3.800 đến 3.900 tấn hàng năm. Chăn nuôi duy trì đàn lợn 6.300 con năm 1987, 6.500 con năm 1988. Đàn trâu đảm bảo 480 con, đàn bò 1.300 con năm 1988. Về lâm nghiệp, phấn đấu trồng 100 ha đồi bạch đàn thâm canh. Hoàn thành tốt các nghĩa vụ đóng góp đối với Nhà nước và phấn đấu hạ tỉ lệ tăng dân số xuống 1,7% năm 1988.

Đại hội đã bầu Ban Thường vụ Thị ủy gồm 11 đồng chí, đồng chí Trần Điềm được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Huy Lê và đồng chí Nguyễn Đăng Tuân được bầu làm Phó Bí thư.

Bước vào thực hiện đường lối của Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh. Đảng bộ nhân dân thị xã Vĩnh Yên đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường vượt khó vươn lên quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XIII đề ra. Nhiệm vụ cụ thể là thực hiện bằng được ba chương trình kinh tế (lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) và thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Trong những năm 1987-1988 thực hiện chương trình lương thực, thực phẩm, Đảng bộ thị xã đã tập trung đầu tư vốn, vật tư, giống, quan tâm đến việc đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp. Tính đến năm 1987, Vĩnh Yên cũng như các địa phương trong tỉnh và cả nước sau 7 năm thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương đã tạo ra bước chuyển biến lớn trong nông nghiệp, năng suất cây trồng, vật nuôi được tăng lên đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện một bước. Song quá trình triển khai cũng đã bộc lộ một số nhược điểm như:

- Hiện tượng khê đọng sản phẩm trong xã viên ngày một tăng, tích lũy cho sản xuất của HTX ngày càng giảm.

- Cơ sở vật chất của HTX như nhà kho, sân phơi, chuồng trại chăn nuôi và một số công trình công cộng khác không còn phù hợp với cơ chế khoán mới, không phát huy được tác dụng và ngày càng xuống cấp, do thiếu kinh phí sửa chữa.

- Năng suất cây trồng tăng chậm do động lực vượt khoán đã hết, Chỉ thị 100 không còn hấp dẫn với xã viên.

- Chỉ thị 100 gắn trách nhiệm của người lao động và lợi ích của họ với sản phẩm cuối cùng nhưng cơ chế phân phối lại không đạt được mục đích của khoán. Việc định ra ba khâu, 5 khâu là những chế định trừu tượng trong quản lý kinh tế, không phù hợp đối với công tác quản lý nông nghiệp trong tình hình mới. Hiện tượng khoán trắng, buông trôi… bắt đầu xảy ra trên địa bàn tỉnh nói chung và ở thị xã nói riêng.

Thực tiễn trong tỉnh bắt đầu xuất hiện một hình thức khoán mới ở một số cơ sở “khoán gọn” như ở đội 5 sào HTX Hợp Thịnh, đội 11 sào của HTX Tân Phong huyện Tam Đảo… Sau khi khảo sát một số cách khoán ở một số địa phương trên, Sở Nông nghiệp Vĩnh Phú đã xây dựng một phương thức khoán mới gọi là “Khoán sản phẩm thanh toán gọn”. Khác với Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương là ở chỗ quá trình trồng trọt được chia thành 8 khâu nhưng không ấn định khâu nào là của HTX, khâu nào là của xã viên đảm nhận, mà ai đảm nhận được khâu nào thì được hưởng khâu đó, cách khoán này đã tạo ra động lực, tiết kiệm, hợp lý trong khoán và động lực vượt khoán.

Chủ trương “Khoán sản phẩm thanh toán gọn” do Sở Nông nghiệp Vĩnh Phú nghiên cứu, đề xuất được Ban Thường vụ Tỉnh ủy thông qua ngày 21/4/1988 mang tên là Nghị quyết 10. Trong khi đó để hoàn thiện cơ chế quản lý trong nông nghiệp, trước đó ngày 5/4/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Qua nghiên cứu Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy Vĩnh Phú có nội dung cơ bản trùng nhau. Sự trùng hợp đó là do cả 2 nghị quyết đều bắt nguồn từ nghiên cứu, khảo sát thực tiễn nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra.

Nội dung cơ bản của Nghị quyết 10 là chấn chỉnh lại tổ chức, đổi mới quản lý HTX, thực hiện chế độ tự quản lý, tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Tỉnh ủy Vĩnh Phú, Thị ủy Vĩnh Yên đã tổ chức quán triệt Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy và kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết trên đến từng người dân để thống nhất việc chia đất, giao ruộng theo Nghị quyết 10 nhưng có sự vận dụng thực tiễn ở địa phương. Thống nhất lấy thời điểm từ 30/4/1988 trở về trước để xác định số khẩu và đối tượng được giao ruộng theo Nghị quyết 10. Qũy đất được chia làm ba loại là: Đất rau xanh, đất chia theo khẩu và chia theo lao động.

So với Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy là một bước tiến trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới trong nông nghiệp của Đảng, được nhân dân trong toàn tỉnh phấn khởi đón nhận. Đây chính là động lực mới để sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói chung và thị xã nói riêng có bước phát triển mới. Mặc dù khi thực hiện Nghị quyết 10 trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt như lũ lụt, khô hạn, sâu bệnh. Về kinh tế lạm phát tăng cao… nhưng với quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân, sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Phú vẫn có bước phát triển. Trong năm cả 5 HTX nông nghiệp của thị xã đã tiến hành Đại hội xã viên xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh và kiện toàn Ban quản lý mới, xây dựng được phương án khoán gọn ở địa phương.

Về trồng trọt, tổng diện tích gieo trồng năm 1987 đạt 1902 ha, bằng 97,6% kế hoạch; trong đó cây lương thực đạt 1.531 ha, bằng 101% so với cùng kỳ. Cây thực phẩm 299,7 ha, bằng 67,7% kế hoạch, so với cùng kỳ tăng 102,2%; cây xuất khẩu 9 ha, bằng 28,1% kế hoạch, so với cùng kỳ bằng 70,3%; cây công nghiệp 132,5 ha, bằng 132,5% kế hoạch. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 2.203 tấn, so với kế hoạch đạt 84,3%, so với cùng kỳ bằng 91,6%, trong đó màu quy thóc đạt 880 tấn, bằng 98% kế hoạch. Năm 1988, tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 1.940 ha, bằng 95,8% kế hoạch (lúa đạt 1.122 ha, bằng 100,9% kế hoạch; ngô 208 ha, bằng 93,5% kế hoạch). Năng suất lúa cả năm đạt 2.414 tấn, bằng 93,5% kế hoạch. Tổng sản lượng quy thóc cả năm đạt 3635 tấn, bằng 93,2% kế hoạch.

Về chăn nuôi, tổng đàn lợn năm 1987 có 5.758 con, bằng 96% kế hoạch, so với cùng kỳ bằng 99,7%. Tổng đàn trâu có 418 con, bằng 112% kế hoạch. Tổng đàn bò có 1.517 con, bằng 108,8% kế hoạch. Tổng đàn lợn có 5211 con, bằng 86,8% kế hoạch, do chăn nuôi tập thể không còn. Trong chăn nuôi bắt đầu áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo để phát triển đàn lợn và trâu bò. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm đạt trên 90% vật nuôi. Việc nuôi thả cá có chiều hướng phát triển tốt. Toàn thị xã đã sản xuất được 6 triệu cá giống, thả 8 vạn cá con, thu hoạch 20 tấn cá thịt.

Phong trào trồng cây tiếp tục được giữ vững. Ngoài việc chăm sóc rừng đã trồng, năm 1987 trồng mới 86 ha rừng bạch đàn thâm canh. Việc trồng cây phân tán ven đường nội thị bắt đầu được chú trọng. Năm 1989 trồng rừng đạt 80 ha, bằng 100% kế hoạch và đã hoàn thành thiết kế trồng rừng đảm bảo quy trình, kỹ thuật.

Sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp có nhiều chuyển biến tốt. Về công nghiệp, thực hiện Quyết định số 217 của Hội đồng bộ trưởng, các xí nghiệp bắt đầu sắp xếp lại sản xuất, giảm gián tiếp và các khu trung gian chuyển sang sản xuất. Chủ động trong sản xuất kinh doanh, tăng cường liên doanh, liên kết, cải tiến công nghệ, giao khoán công việc đến từng công nhân. Ngành công nghệ đã sản xuất được nhiều mặt hàng công nghiệp quan trọng và mặt hàng mới phục vụ kịp thời sản xuất và đời sống. Tổng thu nộp ngân sách năm 1988 đạt 936 triệu đồng. Hai đơn vị hoàn thành kế hoạch trước thời hạn là xí nghiệp Mộc (15/11) và xí nghiệp Vôi (15/12). Nhà máy nước hoàn thành vượt kế hoạch với tổng giá trị sản lượng đạt 183% kế hoạch, nước máy đạt 102,6% kế hoạch.

Sản xuất thủ công nghiệp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của thị xã nên đã được cấp ủy Đảng, chính quyền tập trung chỉ đạo chặt chẽ và thường xuyên. Nắm bắt chính sách mới của Đảng và Nhà nước về đổi mới cơ chế, nên đã sớm đề ra được kế hoạch, biện pháp quản lý để đẩy mạnh sản xuất. Thành tích nổi bật của ngành tiểu thủ công nghiệp là khắc phục khó khăn về nguyên liệu, năng lượng và tiền vốn bằng cách liên kết, kết hợp hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh.

Năm 1988 giá trị tổng sản lượng cả năm (tính theo giá cố định năm 1982) đạt 47.385.076 đồng, bằng 115% kế hoạch, so với năm 1987 tăng 29,4%. Thủ công nghiệp cá thể đạt cao thể hiện sự chuyển biến tích cực theo Nghị định 27 và 29 của Hội đồng bộ trưởng. Đặc biệt thủ công trong nông nghiệp chuyển biến tốt, đạt 6.519.360 đồng, bằng 651% kế hoạch, tăng 650% so với năm 1987.

Sản xuất hàng xuất khẩu được nâng cao về chất lượng và hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao (đạt 120% so với kế hoạch, tăng 43% so với năm 1987); 9/12 HTX hoàn thành kế hoạch, sản phẩm hai mặt hàng mới là thảm bẹ ngô và may quần áo bảo hộ lao động xuất khẩu. Tổng giá trị hàng xuất khẩu bằng ngoại tệ năm 1988 đạt 680.000 rúp-đô la, bình quân đạt 23,7 rúp-đôla/người, vượt kế hoạch tỉnh giao 6,7 rúp-đô la, vượt kế hoạch của thị xã là 4,7 rúp-đôla tính theo đầu người. Điều quan trọng là ngoài việc thu về nguồn ngoại tệ, chương trình sản xuất hàng xuất khẩu còn tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người dân kể cả nông nghiệp và thủ công nghiệp. Ngoài ra còn đưa về cho các cơ sở nhiều vật tư, sản phẩm hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, sản xuất thủ công mặt hàng còn ít, năng suất lao động còn thấp, chất lượng sản phẩm không đều, giá thành cao.

Công tác quản lý đô thị và xây dựng cơ bản: Trên cơ sở cơ cấu kinh tế đã được xác định, thị xã bước đầu đã xây dựng quy hoạch tổng thể về kinh tế-văn hóa giai đoạn mới được UBND tỉnh phê duyệt; hoàn thành quy trình 299 về đo đạc thống kê phân hạng ruộng đất, hoàn thành sớm việc kiểm tra phân loại và xử lý các vi phạm về đất đai theo công điện 3079/V2 của Hội đồng bộ trưởng.

Trong nhiệm kỳ, Đảng bộ thị xã đã tập trung nguồn kinh phí lớn cho xây dựng cơ bản như nhà văn hóa với tổng số vốn là 4.411.958,5 đồng. Thi công và hoàn thành hệ thống thoát nước ở Ngô Quyền và Bảo Sơn với số vốn đầu tư là 1.530.000 đồng. Sửa chữa trường cấp III Trần Phú và các công trình phúc lợi là 7.940.000 đồng. Năm 1988 hoàn thành thi công và đưa vào sử dụng trạm biến áp trung gian 3.200 KVA phường Liên Bảo, trạm biến thế 320 KVA và hệ thống đường dây điện xã Định Trung, trạm biến áp phường Ngô Quyền, đường dây tải điện phường Liên Bảo. Đầu tư thiết kế, thi công chợ Vĩnh Yên và hỗ trợ trên 20 triệu đồng cho các xã, phường sửa chữa trường học…

Hoạt động kinh doanh thương nghiệp đạt khá. Doanh số mua vào và bán ra đạt 25 tỷ đồng năm 1988, vượt 25-38% kế hoạch, từng bước phát huy tính chủ động trong kinh doanh, khai thác hàng hóa. Đẩy mạnh phương án khoán trong kinh doanh. Công tác văn hóa-xã hội được giữ vững và có bước phát triển. Ngành giáo dục ổn định về quy mô trường lớp. Cơ sở vật chất cho các nhà trường như lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học được quan tâm đầu tư ngày càng nhiều. Điểm nổi bật trong lĩnh vực giáo dục là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên vào những dịp hè được thực hiện tốt hơn. Song, chất lượng giáo dục nhìn chung có chiều hướng giảm sút, tỷ lệ học sinh bỏ học ở các cấp học có chiều hướng tăng lên.

Hoạt động y tế, ngoài việc khám chữa bệnh cho nhân dân địa phương còn góp phần vào công tác tuyên truyền, tư vấn cho nhân dân thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình và thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng đạt kết quả cao. Công tác văn hóa thông tin đã làm tốt công tác tuyên truyền cổ động cho các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương như: Phong trào thi đua sản xuất, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh. Các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ được tổ chức vào dịp lễ tết. Các hoạt động chiếu phim, truyền thanh, phát thanh, phát hành báo có nhiều cố gắng phục vụ nhiệm vụ chính trị và đáp ứng yêu cầu của nhân dân địa phương.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nhìn chung được ổn định, không để xảy ra những vụ việc lớn. Song, một số vụ phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội vẫn còn xảy ra trên địa bàn có chiều hướng ngày càng tăng, công tác điều tra, phá án, kịp thời đã góp phần ngăn chặn các vụ phạm pháp xảy ra.

Công tác quân sự thường xuyên được củng cố. Công tác xây dựng lực lượng, huấn luyện dân quân, tự vệ hàng năm đạt kết quả tốt. Kết quả kiểm tra bắn đạn thật của dân quân tự vệ đạt 97,6%. Thị xã đã làm tốt việc xây dựng kế hoạch động viên dài hạn (1988-1990) và kế hoạch phòng thủ địa phương. Làm tốt công tác đăng ký quân dự bị và công tác tuyển quân hàng năm. Lực lượng dân quân, tự vệ có sự phối hợp với lực lượng an ninh làm tốt công tác tuần tra, canh gác, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương đạt kết quả tốt.

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, công tác xây dựng củng cố chính quyền trong nhiệm kỳ có nhiều chuyển biến tốt. Đại biểu HĐND hai cấp được tuyển chọn, đảm bảo đúng cơ cấu và phẩm chất. HĐND thực hiện tốt chức năng giám sát, quyết định nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng. Các kỳ họp của HĐND được thực hiện đảm bảo đúng luật. Việc đổi mới hoạt động của HĐND là đã xây dựng được quy chế hoạt động của HĐND và bàn một số chuyên đề về chương tình kinh tế-xã hội của thị xã mang tính thiết thực.

UBND các cấp có nhiều chuyển biến về đổi mới trong hoạt động thực hiện chức năng quản lý Nhà nước tại địa phương. Xây dựng và ban hành được quy chế hoạt động của các phòng ban chuyên môn, nên các phòng thực hiện tốt chức năng tham mưu về công tác quản lý nhà nước.

Thành tích nổi bật của công tác chính quyền trong nhiệm kỳ là đã cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng thành những kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với địa phương trong các lĩnh vực phát triển kinh tế-xã hội để thực hiện có kết quả như: Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế, xây dựng cơ bản, xây dựng chợ, làm đường, các trạm biến thế điện, thủy lợi, trường học, phát triển thủ công nghiệp đem lại hiệu quả thiết thực ở địa phương.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã chỉ rõ đổi mới kinh tế phải đi đôi với đổi mới chính trị. Đổi mới về chính trị phải tích cực nhưng vững chắc, mang lại kết quả thực tế, không gây mất ổn định về chính trị, không làm phương hại đến toàn bộ công cuộc đổi mới.

Một trong những nội dung bao trùm trong đổi mới chính là vấn đề thực hiện dân chủ hóa XHCN, là quan điểm “lấy dân làm gốc”, là đổi mới nội dung phương thức hoạt động của hệ thống chính trị theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” coi đây là gốc của chế độ xã hội mới mà chúng ta xây dựng.

Nhận thức đúng đắn về quan điểm đổi mới hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của sự nghiệp đổi mới ở địa phương, Thị ủy Vĩnh Yên xác định phải làm tốt công tác chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên thông qua các đợt quán triệt, học tập các nghị quyết của Đảng cấp trên như nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,  nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và các nghị quyết chuyên đề của Trung ương trong nhiệm kỳ. Đặc biệt là việc triển khai thực hiện Chỉ thị 79 của Trung ương về đợt tự phê bình, phê bình trong Đảng năm 1986 đã có tác dụng nâng cao chất lượng đảng viên và các tổ chức cơ sở Đảng đến Đảng bộ thị xã lên một bước. Sau mỗi lần học tập, từng cán bộ đảng viên đều có thu hoạch về nhận thức của mình trước những quan điểm đổi mới của Đảng và có sự liên hệ đến tình hình thực tiễn địa phương, chi bộ nơi mình công tác, trên cơ sở đó đi đến thống nhất về mặt tư tưởng, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng và xác định quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới của địa phương. Việc mở rộng dân chủ trong các tổ chức Đảng, chính quyền và trong xã hội đã tạo được bầu không khí dân chủ rộng rãi, giúp mọi người nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật để tìm ra hướng đi thích hợp thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XIV từ ngày 17 đến ngày 19/01/1989. Về dự Đại hội có 130 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 2.000 đảng viên ở 52 chi, đảng bộ trong toàn thị xã. Đại hội được đồng chí Trần Văn Đăng, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Bùi Hữu Hải, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh về dự.

Với tinh thần dân chủ, công khai, đổi mới sau 3 ngày làm việc khẩn trương và nghiêm túc, Đại hội đã đóng góp nhiều ý kiến, chỉ ra những biện pháp cụ thể để thực hiện thắng lợi phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1989-1990.

Đại hội đã bầu 33 đồng chí vào BCH khóa XIV và 1 ủy viên dự khuyết, trong đó có 6 đồng chí là nữ. Bầu Ban Thường vụ 9 đồng chí, đồng chí Lê Ngọc Quán được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Huy Lê và đồng chí Nguyễn Đăng Tuân làm Phó Bí thư. Với tinh thần tiếp tục đường lối đổi mới, phát huy những kết quả đã đạt được, Thị ủy Vĩnh Yên đã lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân tiếp tục vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ đề ra.

Trong nông nghiệp tiếp tục thực hiện cơ chế khoán 10. Tổ chức Đại hội xã viên để kiện toàn các HTX nông nghiệp. Quy hoạch hệ thống thủy lợi, sửa chữa kênh mương, trạm bơm. Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Do đó sản xuất nông nghiệp tiếp tục có sự phát triển khá. Tổng diện tích gieo trồng năm 1989 là 1974 ha, bằng 186% kế hoạch, tăng 10% so với cùng ký; trong đó diện tích trồng lúa là 1.131 ha, bằng 100,5% kế hoạch (tăng 1% so với cùng kỳ). Năng suất lúa đạt 5.474 kg/ha, bằng 95% kế hoạch (tăng 598 kg/ha). Riêng HTX nông nghiệp Tích Sơn đạt 6.300 kg/ha. Tổng sản lượng lương thực đạt 4.084 tấn, bằng 99,6% kế hoạch (tăng 416 tấn so với cùng kỳ). Tổng mức huy động lương thực đạt 671,2 tấn, bằng 100% kế hoạch trong đó thuế nông nghiệp đạt 351,2 tấn, đạt 100% kế hoạch (tăng 9 tấn so với cùng kỳ). Năm 1990 hoàn thành nghĩa vụ đóng góp lương thực trước thời hạn đạt 155,5 triệu, bằng 420%.

Nhìn chung tình hình sản xuất nông nghiệp từ sau khoán 10 có nhiều chuyển biến tích cực, năng suất, sản lượng đều tăng. Số hộ có đời sống khá tăng dần, số hộ nghèo giảm (năm 1987-1988 số hộ thiếu ăn trong nông nghiệp là 1.520 hộ, trong đó quá khó khăn 192 hộ; năm 1989-1990 số hộ thiếu ăn chỉ còn 150 hộ, trong đó quá khó khăn 88 hộ). Sản xuất nông nghiệp đạt 3 chỉ tiêu là: Diện tích, năng suất, sản lượng. Đời sống nhân dân được ổn định.

Năm 1989, toàn thị xã trồng được 68 ha rừng bạch đàn thâm canh, bằng 93,7% kế hoạch; năm 1990 trồng rừng đạt 103,8% kế hoạch. Trồng trên 30 nghìn cây phân tán.

Về chăn nuôi, năm 1989-1990 nhìn chung vẫn giữ được ổn định, đàn trâu có 420 con, đàn bò có 180 con, đàn lợn 5700 con.

Tồn tại trong sản xuất nông nghiệp là dịch vụ thủy lợi và bảo vệ thực vật ở một số cơ sở còn khó khăn. Giá hàng nông sản quá thấp so với hàng công nghiệp, gây tâm lý kém phấn khởi cho nhân dân.

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp do chuyển đổi cơ chế nên hầu hết các đơn vị sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn vì thiếu vốn, thiết bị lạc hậu lại chi phối bởi cơ chế thị trường. Sản phẩm làm ra tiêu thụ chậm. Tuy vậy, các đơn vị từng bước tháo gỡ khó khăn, tìm ra hướng đi thích hợp. Nhiều cơ sở sản xuất đã vươn lên làm ăn có hiệu quả và nộp ngân sách chi nhà nước khá như công ty thủy nông năm 1989 là 52,5 triệu, xí nghiệp bánh kẹo là 46 triệu, công ty điện 18,8 triệu. Riêng xí nghiệp do thị xã quản lý như nhà máy nước có nhiều cố gắng lo đủ việc làm cho công nhân, giá trị sản lượng đạt 23 triệu 500 nghìn đồng, bằng 220% so với kế hoạch. Ngành thủ công nghiệp đạt giá trị tổng sản lượng năm 1989 là 41 triệu đồng, so với cùng kỳ tăng 1,2%. Giá trị hàng hóa đạt 2 tỉ đồng, so với cùng kỳ tăng 32%, trong đó hàng xuất khẩu đạt 446 triệu đồng, bằng 120% kế hoạch, nộp thuế 58,9 triệu, tăng 32 % so với cùng kỳ. Về thương nghiệp, năm 1990 lãnh đạo thị xã đã xử lý có kết quả tình trạng kinh doanh thua lỗ kéo dài của công ty thương nghiệp và HTX mua bán của thị xã, bước đầu làm ăn có lãi và nộp cho ngân sách 47,7 triệu đồng. Tiếp tục nghiên cứu, sắp xếp bộ máy tổ chức và mạng lưới thương nghiệp quốc doanh, phù hợp với thị trường, kinh doanh có hiệu quả.

Về xây dựng cơ bản và quản lý đô thị, năm 1990 thị xã đã hoàn thành quy hoạch dân cư đến năm 1995 với tổng diện tích là 35,9 ha. Năm 1990 đã cấp đất cho 387 hộ, xử lý kịp thời các vụ lấn chiếm đất đai và cấp đất sai thẩm quyền, thu hồi 630 m2 đất. Tập trung đầu tư xây dựng và nâng cấp một số công trình như chợ Vĩnh Yên; mạng lưới điện Liên Bảo, Đống Đa, Khai Quang và hệ thống cấp nước phố Chiền, phường Ngô Quyền; sửa chữa, nâng cấp trường học, vườn hoa, đường nội thị với tổng số vốn đầu tư là 258 triệu.

Tổng thu ngân sách năm 1989 đạt 1,5 tỉ đồng, trong đó ngân sách thị xã đạt gần 1,2 tỉ đồng, so với kế hoạch đạt 120%, tăng 52% so với cùng kỳ. Trong đó thu quốc doanh đạt 57,1% kế hoạch.

Mặc dù trong điều kiện kinh phí còn nhiều khó khăn nhưng dưới sự chỉ đạo của Thị ủy, các hoạt động văn hóa, xã hội có nhiều cố gắng vươn lên phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của địa phương. Từ năm 1989-1990, thị xã đã đầu tư 110 triệu đồng để nâng cấp các nhà trường trong thị xã, đáp ứng yêu cầu về bàn ghế, lớp học để công tác dạy và học được tốt. Thành tích nổi bật của lĩnh vực giáo dục là đã hoàn thành được việc xóa mù chữ trên địa bàn thị xã, thành lập trường năng khiếu cấp II bước đầu hoạt động có hiệu quả. Kỳ thi học sinh giỏi văn nhà trường đạt 1 giải Nhất và 2 giải Khuyến khích cấp tỉnh.

Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thông tin thể thao đã phục vụ kịp thời công tác tuyên truyền những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc biệt là đợt tuyên truyền cuộc bầu cử HĐND ba cấp vào năm 1990.

Công tác y tế, ngoài việc khám chữa bệnh còn làm tốt công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, tiêm chủng mở rộng và công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, góp phần làm giảm tỉ lệ phát triển dân số của thị xã xuống 1,8% năm 1990.

Tuy vậy, công tác văn hóa xã hội cũng còn những tồn tại như hoạt động chiều sâu của công tác văn hóa còn nhiều hạn chế. Một số hủ tục lạc hậu trong cưới xin, ma chay vẫn còn phát triển. Công tác phục vụ người bệnh của một số cán bộ y tế chưa cao.

Công tác an ninh, quốc phòng có nhiều cố gắng trong việc phối hợp các ngành trong khối nội chính thực hiện tốt Chỉ thị 135 của Hội đồng Bộ trưởng, để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mặc dù ngày càng phức tạp.

Công tác quân sự địa phương làm tốt công tác huấn luyện dân quân, tự vệ trong tình hình mới. Phong trào thi đua xây dựng đơn vị quyết thắng được duy trì và phát triển. Công tác tuyển quân hàng năm đều hoàn thành tốt chỉ tiêu trên giao.

Cùng với việc lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội, công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong nhiệm kỳ XIV có nhiều cố gắng. Ngoài việc quán triệt các Nghị quyết 5,6,7 của Trung ương, Nghị quyết 10,16 của Bộ Chính trị, Đảng bộ còn quan tâm làm tốt công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền trong Đảng và nhân dân trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, trước sự khủng hoảng của CNXH ở Đông Âu. Qua đó củng cố lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Công tác tổ chức, sau Đại hội Đảng hai cấp, các ban chi, Đảng ủy được kiện toàn và đi vào hoạt động tốt. Năm 1990, Thị ủy Vĩnh Yên đã triển khai thực hiện Nghị quyết 21 của Tỉnh ủy về củng cố Đảng bộ xã, phường. Thực hiện nghị quyết trên, 7/7 Đảng bộ đã tiến hành kiểm điểm vai trò lãnh đạo theo tinh thần đổi mới của cấp ủy, rà soát lại nhiệm vụ chính trị, các mục tiêu kinh tế xã hội và công tác xây dựng Đảng… Về tổ chức cán bộ, sắp xếp lại mô hình tổ chức chi, đảng bộ theo khu vực dân cư, gắn với đội sản xuất và khu vực hành chính. Công tác quản lý đảng viên, phân công đảng viên được quan tâm hơn. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng lên.

 Nhìn chung công tác đề bạt cán bộ, bố trí cán bộ trong nhiệm kỳ có nhiều đổi mới và đã phát huy tác dụng tốt. Năm 1990, Thị ủy đã tổ chức tập huấn cho 70 cán bộ xã, phường, thị trấn, 135 chi ủy viên ở các cơ sở Đảng về công tác Đảng, cử 11 cán bộ đi bồi dưỡng nghiệp vụ ở các trường của tỉnh và Trung ương mở. Công tác phát triển đảng viên mới trong hai năm 1989-1990 được 75 đảng viên. Công tác kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ. Năm 1989, Thị ủy đã tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra cho 130 cán bộ cơ sở và tổ chức kiểm tra đảng viên chấp hành ở 17 chi, đảng bộ, kiểm tra thi hành kỷ luật 4 đảng bộ. Qua kiểm tra đã kỷ luật 19 đảng viên, trong đó khiển trách 5, cảnh cáo 12, khai trừ 2. Năm 1990 triển khai hai đợt kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng. Đợt 1 tiến hành ở 6 chi, đảng bộ, đợt 2 kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng theo tinh thần Chỉ thị 14 của Tỉnh ủy. Tổng số đảng viên được kiểm tra là 2007/2194 bằng 92,4%. Kết quả kiểm tra đảng viên chấp hành tốt là 1627 đồng chí, bằng 81,8%; chấp hành chưa tốt 275 đồng chí, bằng 13,5%; đảng viên vi phạm 105 đồng chí, bằng 5,3%. Trong đó đảng viên vi phạm đã xét kỷ luật 79 đồng chí, trong đó khai trừ 2, cách chức 1, cảnh cáo 29, khiển trách 36. Đi đôi với việc kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Đảng, Thị ủy còn tiến hành kiểm tra việc thu, chi đảng phí ở 15 chi, đảng bộ, nhận và giải quyết hầu hết các đơn thư khiếu nại trong nhiệm kỳ.

Công tác chính quyền trong nhiệm kỳ đã tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức tốt cuộc bầu cử HĐND ba cấp. Hoạt động của HĐND sau bầu cử đã nhanh chóng đi vào nề nếp theo luật định. Thường trực HĐND thị xã đã xây dựng được chương trình hành động của các kỳ họp, tổ chức bồi dưỡng cho thư ký HĐND xã, phường tiếp xúc với cử tri, tổ chức kiểm tra giám sát một số vấn đề của cơ quan Nhà nước. Hội đồng nhân dân thị xã, xã, phường, thị trấn đã tổ chức đủ 4 kỳ họp trong năm. Nội dung các kỳ họp được chuẩn bị tốt hơn, tạo được không khí dân chủ trong thảo luận.

UBND thị xã và các xã, phường, thị trấn đã đi vào hoạt động theo luật định, có nhiều tiến bộ trong công tác quản lý, điều hành Nhà nước ở địa phương như xử lý tình trạng thua lỗ của công ty thương nghiệp, HTX mua bán, việc thu hồi công nợ, hoạt động tôn giáo, công tác quản lý Nhà nước của UBND xã. Tuy vậy, công tác quản lý Nhà nước của UBND xã, phường, thị trấn có lúc, có nơi lơi lỏng, thiếu chặt chẽ nhất là trong việc ban hành các văn bản pháp quy.

Công tác đoàn thể quần chúng trong nhiệm kỳ tập trung vào công tác vận động tuyên truyền những ngày kỷ niệm lớn trong năm và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Trong đợt góp ý kiến vào dự thảo văn kiện của Đảng trình Đại hội VII toàn quốc, khối đoàn thể của thị xã đã có 430 ý kiến đóng góp với Đảng.

Công tác củng cố tổ chức các tổ chức đoàn thể từ cơ sở đến thị xã được chú trọng qua mỗi nhiệm kỳ theo hướng ngày càng nâng cao chất lượng. Việc đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động là một yêu cầu bức xúc được tất cả các đoàn thể quan tâm. Việc phối hợp giữa các ngành, địa phương để thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương trong nhiệm kỳ có nhiều tiến bộ.

Liên đoàn lao động nổi lên phong trào giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Hội phụ nữ triển khai cuộc vận động: Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con tốt. Đoàn thanh niên với phong trào thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, giáo dục thanh, thiếu niên chậm tiến bộ, là lực lượng nòng cốt thực hiện Chỉ thị 135 trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Hội nông dân tập trung vận động hội viên đi sâu vào thâm canh, phát triển kinh tế gia đình, giúp đỡ hộ nghèo và vận động nông dân làm kinh tế vườn. Mặt trận Tổ quốc làm tốt công tác vận động xây dựng quỹ bảo thọ, quỹ bảo trợ an ninh, quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nếp sống mới và tham gia phong trào trồng cây gây rừng. Hội cựu chiến binh tuy mới thành lập còn nhiều khó khăn, nhưng đã có những cố gắng tham gia thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Tuy có nhiều cố gắng, song các hoạt động của đoàn thể còn nhiều lúng túng về nội dung và phương thức hoạt động, hình thức tập hợp vận động hội viên, đoàn viên. Kinh phí hoạt động còn nhiều khó khăn, đội ngũ cán bộ ở cơ sở chưa thật yên tâm công tác.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với những thành tựu đạt được sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra (1986-1990) ở thị xã Vĩnh Yên đã khẳng định sự năng động, chủ động, sáng tạo của Đảng bộ trong quá trình vận dụng những quan điểm đổi mới của Đảng vào thực tiễn địa phương. Những thành tựu sau 5 năm đổi mới tuy vẫn còn hạn chế nhưng đã tạo ra những tiền đề vững chắc để Đảng bộ và nhân dân thị xã tiếp tục giành được thắng lợi ở chặng đường đổi mới những năm tiếp theo do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đề ra.

2. Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã lần thứ XV lãnh đạo nhân dân tiếp tục đổi mới và thực hiện CNH-HĐH theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991-1995)

Năm 1991 tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, các nước XHCN đang lâm vào khủng hoảng toàn diện, nghiêm trọng nhất từ trước tới nay. Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ là tổn thất nặng nề của CNXH và phong trào cách mạng thế giới. Tình hình trên có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của cán bộ đảng viên, nhân dân và công cuộc đổi mới ở nước ta.

Năm 1991 là năm diễn ra Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Đây là thời điểm để mỗi địa phương trong toàn quốc đánh giá chặng đường sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, từ đó xác định bước đi và giải pháp thích hợp ở chặng đường tiếp theo. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII được tiến hành từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991 tại Hà Nội. Đại hội đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm về đổi mới và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng trước những khó khăn thách thức mới. Đại hội đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta với 6 đặc trưng cơ bản. Đại hội thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế-xã hội. Phấn đấu đưa đất nước vượt qua tình trạng nước nghèo, kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh vào thế kỷ XXI.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII có một ý nghĩa lịch sử quan trọng trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước. Song, tư tưởng nổi bật của Đại hội là quyết tâm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là con đường duy nhất đúng đắn được Đảng, Bác Hồ và cả dân tộc ta lựa chọn không có gì thay đổi.

Để cụ thể hóa đường lối đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đề ra, Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VII (vòng 2) đã tổng kết việc thực hiện  nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VI rút ra 3 bài học lãnh đạo công cuộc đổi mới ở địa phương và xây dựng phương hướng nhiệm vụ chủ yếu trong những năm 1991-1995 của tỉnh là: Giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu. Tích cực giải quyết việc làm cho người lao động, giảm mạnh nhịp độ tăng dân số. Nâng cao chất lượng về y tế, văn hóa, giáo dục, tăng cường sức khỏe và hưởng thụ văn hóa cho nhân dân, phù hợp với nền kinh tế. Bảo đảm công tác quốc phòng, an ninh và trật an toàn xã hội, đổi mới sự hoạt động của Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, phát huy dân chủ XHCN, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực.

Triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú, Đảng bộ thị xã đã tiến hành Đại hội đại biểu nhiệm kỳ XV vào tháng 10/1991. Sau phần kiểm điểm kết quả thực hiện của nhiệm kỳ XIV, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ của nhiệm kỳ XV, trong đó xác định cơ cấu kinh tế trong 5 năm 1991-1995 là công nghiệp, dịch dụ và nông nghiệp. Đại hội bầu BCH khóa XV gồm 31 đồng chí, bầu Ban Thường vụ 9 đồng chí, đồng chí Lê Ngọc Quán tiếp tục được bầu làm Bí thư, 2 đồng chí Phó Bí thư là đồng chí Phạm Thanh Long và Nguyễn Đăng Tuân.

Bước vào thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XV nhiệm kỳ 1991-1995 trong điều kiện khó khăn, thuận lợi đan xen. Khó khăn bao trùm là tình hình tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên hoang mang dao động trước sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch tăng cường chống phá ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong khi đó tình hình kinh tế-xã hội của thị xã vẫn còn nhiều khó khăn. Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, hạ tầng cơ sở thấp kém, lại thiếu vốn cho đầu tư phát triển. Trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, vai trò lãnh đạo của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa mạnh. Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới.

Song, bên cạnh những khó khăn, thách thức trên, Đảng bộ thị xã cũng có nhiều thuận lợi cơ bản. Trước hết là có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh và kinh nghiệm để đưa dân tộc ta vượt qua khó khăn thử thách. Đảng bộ và nhân dân thị xã có truyền thống đoàn kết, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường. Những thành tựu của 5 năm đổi mới 1986-1990 đã để lại cho Đảng bộ nhiều bài học quý. Với sự nỗ lực cố gắng vươn lên của Đảng bộ và nhân dân trong 5 năm 1991-1995, thị xã Vĩnh Yên đã đạt được kết quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, nhiều chỉ tiêu vượt so với kế hoạch đề ra.

Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp bước đầu thoát ra khỏi tình trạng khó khăn gay gắt của thời kỳ 1989-1990. Một số xí nghiệp đóng trên địa bàn đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường, làm ăn có lãi. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp trên địa bàn bình quân 5 năm tăng 12,0% (tăng 2% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra), trong đó công nghiệp quốc doanh tăng bình quân 5 năm là 11,1%, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,8%. Một số sản phẩm có thị trường tiêu thụ như mộc, vật liệu xây dựng, cơ khí nhỏ, chế biến lương thực, thực phẩm…

Thương mại, dịch vụ du lịch có tốc độ phát triển nhanh so với các ngành khác. Năm 1991 doanh thu toàn ngành đạt 8,7 tỉ đồng, năm 1995 đạt 25,2 tỉ đồng, tăng bình quân 5 năm là 15,6%. Riêng năm 1995 doanh thu du lịch đạt 2,5 tỉ đồng.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII về đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Các ban quản lý HTX được kiện toàn theo hướng thiết thực, hiệu quả. Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài. Chính sách kinh tế nhiều thành phần đã và đang tạo ra động lực mới trong nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện trên cả 3 chỉ tiêu: Diện tích, năng suất, sản lượng. Sản lượng lương thực bình quân 5 năm đạt 3.920 tấn, trong đó năm 1995 đạt 4.600 tấn (tăng 800 tấn so với chỉ tiêu Đại hội đề ra). Lương thực bình quân đầu người đạt 320 kg/năm (tăng 40 kg so với chỉ tiêu của Đại hội).

Chăn nuôi có bước phát triển khá, nhất là đàn lợn tăng nhanh từ 5080 con năm 1991 lên 9200 con năm 1995, bình quân 5 năm tăng 13,4%. Kinh tế vườn và sản xuất ngành nghề có bước phát triển mới đã góp phần giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp tăng từ 2,7 tỉ đồng năm 1991 lên 5,05 tỉ đồng năm 1995. Tốc độ tăng bình quân trong 5 năm là 13,2%. Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư ngày càng nhiều, làm cho bộ mặt của địa phương có nhiều khởi sắc.

Do sản xuất phát triển nên tổng thu ngân sách trên địa bàn liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước. Năm 1991 tổng thu 2,39 tỉ đồng, năm 1995 tổng thu trên 10 tỉ đồng. Công tác xây dựng cơ bản và quản lý đô thị có nhiều cố gắng như hoàn thành quy hoạch khu nghỉ mát Tam Đảo được Nhà nước phê duyệt năm 1992. Trong 5 năm, thị xã đã tập trung nguồn kinh phí lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng như lắp đặt 12 trạm biến áp với tổng công suất là 2610 KVA, cải tạo nâng cấp 32,3 km đường dây điện cao thế và hạ thế, lắp đặt 300 bóng đèn chiếu sáng công cộng. Làm 10 km đường nhựa nội thị, 42 km đường cấp phối, xây dựng 1,5 km cống rãnh thoát nước. Xây dựng mới 5 trường học hai tầng, sửa chữa nâng cấp hàng chục phòng học. Xây dựng trụ sở làm việc của Thị ủy, HĐND, UBND, Viện Kiểm sát, Tòa án… tính đến năm 1995, 100% xã, phường được lắp đặt điện thoại, bình quân 100 người dân có 2 máy điện thoại. Tổng vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản từ năm 1991 đến 1995 là 40,5 tỉ đồng; trong đó năm 1995 vốn đầu tư tăng 7 lần so với năm 1991.

Từ thực tế phát triển trên đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng dịch vụ, du lịch, công nghiệp và nông nghiệp (thời kỳ 1985-1990 cơ cấu kinh tế là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ). Sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng chăn nuôi, ngành nghề, trong trồng trọt chú trọng phát triển diện tích cây vụ đông. Một số vật nuôi có giá trị kinh tế cao như lợn hướng nạc và một số con đặc sản ngày càng phát triển.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong lĩnh vực kinh tế cũng còn nổi lên một số khó khăn tồn tại như: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tư nhân tuy có bước phát triển nhưng việc kiểm tra quản lý Nhà nước chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ còn thiếu vốn và kinh nghiệm sản xuất.

Trong sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp quy mô nhỏ bé, thiết bị công nghiệp lạc hậu, thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề còn thiếu so với yêu cầu. Chất lượng hàng hóa, sức cạnh tranh còn thấp. Trong sản xuất công nghiệp việc chuyển giao kỹ thuật còn chậm. Kết quả thu ngân sách đạt khá nhưng mới chỉ đảm bảo nhu cầu chi thường xuyên, chi cho phát triển kinh tế xã hội chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn của tỉnh và Trung ương. Còn 3/7 xã, phường, thị trấn chưa tự cân đối được ngân sách.

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin thể thao được duy trì phục vụ kịp thời việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, nhất là các ngày kỷ niệm, tết cổ truyền… với nhiều hình thức phong phú thiết thực, hiệu quả như hướng dẫn tổ chức lễ hội, triển lãm, thi đấu thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ, hội diễn văn nghệ, xây dựng gia đình, xã, phường văn hóa… Tiêu biểu, trong 10 năm đổi mới (1986-1996), Uỷ ban hợp nhất thị xã đã đặt tên cho 20 đường, phố mới, một số đường phố được mang tên danh nhân hoặc địa danh Vĩnh Phú.

Công tác giáo dục đào tạo có nhiều tiến bộ phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Trong giáo dục phổ thông chú ý đến trường chuyên, lớp chọn, coi trọng việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên. Tính đến năm 1995 số giáo viên được tiêu chuẩn hóa chiếm từ 85-90%, trong đó giáo viên giỏi năm 1993 tăng 10% so với năm 1990. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên thể hiện rõ nét ở trường chuyên, lớp chọn. Số học sinh giỏi từ cấp thị đến cấp tỉnh hàng năm đều tăng. Từ năm 1993-1995 học sinh giỏi cấp quốc gia thị xã năm nào cũng có. Đặc biệt năm học 1993-1994, thị xã có một học sinh đạt giải Nhất quốc gia về môn Toán lớp 9. Hiện tượng học sinh bỏ học giảm dần và không có học sinh vi phạm pháp luật. Các hình thức đào tạo như học nghề, học ngoại ngữ và tin học đã thu hút hàng trăm người tham gia. Trình độ dân trí được nâng lên một bước đáng kể. Thành tích nổi bật trong nhiệm kỳ về giáo dục là thị xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, đang tiến hành phổ cập giáo dục THCS ở những nơi có điều kiện.

Công tác y tế có nhiều cố gắng, cơ sở vật chất từng bước được tăng cường. Trung tâm y tế thị xã và y tế cơ sở được củng cố một bước. Ủy ban dân số KHHGĐ được thành lập từ thị xã đến cơ sở, bước đầu hoạt động có hiệu quả đã góp phần làm giảm tỉ lệ phát triển dân số trên địa bàn từ 1,6% năm 1991 xuống 1,5% năm 1993 và 1,4% năm 1995. Trong nhiều năm thị xã không có nữ công nhân viên sinh con thứ 3, công tác này đã trở thành phong trào rộng khắp trong xã hội được mọi tầng lớp nhân dân quan tâm.

Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, điều dưỡng cho cán bộ và những người có công với nước hàng năm được thực hiện tốt. Công tác phòng bệnh thông qua chương trình tiêm chủng mở rộng, tiêm phòng dịch, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đạt kết quả khá.

Tổng kết 10 thực hiện pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em (1981-1991) ở thị xã Vĩnh Yên được cấp trên đánh giá là một đơn vị khá. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em đã được gia đình và cả xã hội quan tâm. Các quyền cơ bản của trẻ em được tôn trọng và thực hiện, đồng thời làm tốt công tác giáo dục bổn phận của trẻ em. Những đơn vị có nhiều thành tích trong công tác này là Ủy ban chăm sóc bảo vệ trẻ em phường Tích Sơn, Phòng giáo dục, Đoàn thanh niên thị xã, Hội phụ nữ thị xã, Phòng văn hóa thông tin, phường Ngô Quyền, phường Liên Bảo, xã Định Trung, Công an thị xã, thị trấn Tam Đảo, trường THPT Trần Phú… đã góp phần tích cực trong việc triển khai và tổ chức thực hiện pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em thị xã trong nhiều năm qua. Các chính sách xã hội trên địa bàn được thực hiện đạt kết quả tốt. Trong 5 năm toàn thị xã giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, xóa được 244 hộ đói, giảm được 446 hộ nghèo, góp phần làm giảm số hộ đói nghèo của thị xã năm 1995 còn 10%. Đảm bảo đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách đối với các đối tượng chính sách trên địa bàn như thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với nước, cán bộ hưu trí…

Từ năm 1991-1995 dưới sự lãnh đạo của Thị ủy, chính quyền và các đoàn thể thị xã đến các xã, phường, thị trấn đã vận động nhân dân lập được quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, các hoạt động nhân đạo từ thiện được cả xã hội quan tâm. Trong 5 năm, toàn thị xã đã sửa chữa nâng cấp 23 nhà tình nghĩa, xây dựng mới 3 nghĩa trang liệt sỹ với số tiền gần 600 triệu đồng, bằng sự đóng góp của nhân dân cùng với hỗ trợ của Nhà nước.

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hệ thống truyền thanh đã góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền, xây dựng đời sống văn hóa và thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương, tạo ra sức sống mới trên địa bàn, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Công tác an ninh quốc phòng có nhiều cố gắng, đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Lực lượng an ninh, quân sự địa phương được tăng cường khả năng chiến đấu, chủ động triển khai các phương án chống “Diễn biến hòa bình” và phòng, chống tội phạm.

Tổng kết phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, 5 năm (1991-1995) UBND thị xã Vĩnh Yên đã đề ngnhị UBND tỉnh Vĩnh Phú xét khen thưởng cho Đảng bộ và nhân dân phường Ngô Quyền.

Công tác quân sự địa phương tập trung vào việc xây dựng lực lượng huấn luyện, tuyển quân và thực hiện chính sách hậu phương quân đội, xây dựng đơn vị quyết thắng. Đặc biệt là thị xã đã hoàn thành tốt đợt triển khai kế hoạch luyện tập khu vực phòng thủ “Vĩnh Yên 93” đạt kết quả tốt.

Tổng kết 10 năm công tác vận động tuyển quân (1981-1991), thị xã Vĩnh Yên là một đơn vị khá của tỉnh được Hội đồng Nhà nước tặng thưởng:

 - 1 Huân chương quân công hạng Ba, năm 1982.

 - 1 Huân chương chiến công hạng Nhì, năm 1985.

 - 1 Huân chương quân công hạng Nhì năm 1988.

Xã Khai Quang được tặng thưởng hai Huân chương chiến công hạng Hai và hạng Ba; phường Tích Sơn, xã Định Trung, Công ty điện được Hội đồng Bộ trưởng tặng Bằng khen; phường Đống Đa, Trường Trung học giao thông, nhà nghỉ Trung ương được UBND tỉnh tặng Bằng khen. Tiêu biểu cho các đơn vị có nhiều thành tích trong công tác động viên tuyển quân 10 năm (1981-1991) là xã Khai Quang, Định Trung, phường Tích Sơn, Công ty điện, trường Trung học giao thông.

Hoạt động của các ngành trong khối nội chính có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giữ vững kỷ cương pháp luật và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu được cấp ủy, chính quyền từ thị xã đến cơ sở tập trung vào một số lĩnh vực trọng yếu như: Quản lý đất đai, xây dựng cơ bản, thu, chi ngân sách, ký kết các hợp đồng kinh tế.

Cùng với việc phát triển kinh tế và thực hiện các chính sách xã hội, Đảng bộ thị xã đã coi trọng công tác củng cố tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương, đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đã đạt được một số kết quả là nhân tố quyết định đến việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Công tác tư tưởng luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tổ chức triển khai kịp thời các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của tỉnh đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt. Nội dung phương pháp tuyên truyền được đổi mới nhằm từng bước nâng cao hiệu quả của công tác chính trị tư tưởng. Sau mỗi lần học tập, các cấp ủy đều xây dựng được chương trình hành động, đề án công tác và các giải pháp thực hiện để đưa nghị quyết vào cuộc sống.

Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ đảng viên được coi trọng. Hình thức tổ chức học tập được triển khai đa dạng, phong phú như: Nghe nói chuyện thời sự, nghe băng, xem băng, sinh hoạt câu lạc bộ, bản tin, thông qua các hoạt động văn hóa văn nghệ… Trong nhiệm kỳ, Đảng bộ đã mở 39 lớp học tập trung cho trên 3000 lượt cán bộ đảng viên nghiên cứu một số chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế thị trường, chống “Diễn biến hòa bình”, truyền viên và thông tin viên, thực hiện tốt chế độ thông tin hai chiều để nắm vững diễn biến tư tưởng, xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh.

Có thể nói, công tác tư tưởng trong nhiệm kỳ đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định con đường đi lên CNXH, làm ổn định tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thời điểm có nhiều diễn biến phức tạp qua đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, vào con đường đi lên CNXH ở nước ta, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng và nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.

Công tác tổ chức cán bộ chú ý tập trung sắp xếp lại tổ chức ở các cơ quan Đảng, đoàn thể và các cơ quan quản lý Nhà nước cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương. Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, công tác tổ chức đã có những chuyển biến mạnh, nhất là công tác củng cố cơ sở yếu kém và xây dựng các chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh. Năm 1991, toàn Đảng bộ thị xã có 10 cơ sở yếu kém, đến năm 1994 còn 2 cơ sở, năm 1995 không còn cơ sở đảng yếu kém. Số cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh ngày càng tăng từ 11 đơn vị năm 1991 lên 15 đơn vị năm 1995. Công tác phát triển đảng viên mới được Đảng bộ quan tâm thường xuyên. Trong 5 năm (1991-1995), toàn Đảng bộ đã kết nạp được 207 đảng viên mới.

Công tác củng cố, kiện toàn cơ sở đảng được Thị ủy quan tâm chỉ đạo chặt chẽ. Trong nhiệm kỳ đã củng cố được 4 cơ sở yếu, kiện toàn lại tổ chức của 5 đơn vị. Nghiên cứu sắp xếp lại tổ chức chi bộ và khu vực hành chính ở 7 xã, phường, thị trấn. Thành lập ban cán sự ở UBND, Đảng đoàn ở khối đoàn thể và HĐND xã. Tổ chức cho 100% số cơ sở Đảng nghiên cứu và thực hiện quy định về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình chi bộ. Nhiều đơn vị đã xây dựng được quy chế và thực hiện làm việc theo quy chế. Công tác lãnh đạo của cấp ủy được đổi mới một bước về nội dung và phương pháp lãnh đạo; nhiều cấp ủy Đảng đã xây dựng được chương trình và kế hoạch công tác, xác định được công tác trọng tâm, trọng điểm trong từng thời gian để chỉ đạo.

Công tác kiểm tra được tiến hành thường xuyên có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn những sai phạm của các tổ chức Đảng và đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ. Trong 5 năm (1991-1995), Thị ủy đã tiến hành kiểm tra 12.172 lượt đảng viên, trong đó đảng viên chấp hành tốt chiếm 90,2%, đảng viên còn có khuyết điểm là 7,5%, đảng viên vi phạm là 2,18%, tổ chức Đảng vi phạm 4,5%. Trong nhiệm kỳ kiểm tra đã xử lý một tổ chức cơ sở Đảng, 75 đảng viên; trong đó khiển trách 22, cảnh cáo 37, cách chức 1, khai trừ 15 và đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức là 132. Với sự cố gắng trong công tác xây dựng Đảng đã góp phần nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên lên một bước đáng kể.

HĐND từ thị đến cơ sở hoạt động ngày càng nề nếp. Nội dung các kỳ họp Hội đồng được chuẩn bị chu đáo, thiết thực. Nhiều nghị quyết của HĐND như xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giao thông nông thôn đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Ngoài ra, Hội đồng còn làm tốt công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, tăng cường và chú ý lắng nghe tâm tư nguyện vọng của quần chúng.

Công tác chính quyền từ thị xã đến cơ sở thực hiện một bước sắp xếp lại bộ máy, thực hiện tinh giảm biên chế, rà soát các văn bản, thủ tục hành chính theo tinh thần nghị quyết Trung ương VIII, từng bước tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, giảm sự phiền hà cho nhân dân. Tiến hành sắp xếp, điều chỉnh lại các khu vực dân cư theo Quyết định số 116 của UBND tỉnh. Tiến hành cụ thể hóa những chủ trương của cấp ủy và chính sách của Nhà nước thành những quyết định phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. Trong chỉ đạo, điều hành đã bám sát kế hoạch đề ra, tập trung dứt điểm những công tác lớn như đổi mới HTX, phát triển giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, chấn chỉnh công tác quản lý đất đai… Tăng cường chỉ đạo công tác quốc phòng an ninh, coi trọng công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu tố kịp thời.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từng bước đổi mới phương thức, nội dung hoạt động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới một cách hiệu quả. Hình thức tổ chức tuyên truyền vận động quần chúng ngày càng đa dạng theo hướng gắn lợi ích kinh tế, nghề nghiệp, việc làm, nhu cầu, sở thích, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng đối tượng tuyên truyền, nhằm động viên quần chúng thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương như chương trình phát triển kinh tế xã hội và thực hiện các nhiệm vụ: Xóa đói giảm nghèo, giao thông nông thôn, thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, phòng chống tai, tệ nạn xã hội, xây dựng gia đình văn hóa, xã, phường văn hóa, tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện.

Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác vận động quần chúng bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực. Một số ban, ngành đã xây dựng được chương trình phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương, quyết định của cấp ủy và chính quyền địa phương đạt kết quả, đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội và ổn định chính trị, an ninh trên địa bàn.

Tuy nhiên, việc đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị còn nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ tình hình mới như: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cơ sở Đảng và đảng viên còn thấp, lúng túng trong việc đổi mới phương pháp lãnh đạo và nội dung sinh hoạt. Phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc có nơi có lúc thiếu sâu sát. Công tác tư tưởng chưa nắm bắt kịp thời tình hình diễn biến tư tưởng của cán bộ và nhân dân. Việc hướng dẫn dư luận xã hội đấu tranh phê phán các biểu hiện sai trái còn yếu. Đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Công tác quy hoạch cán bộ lúng túng, nhất là cán bộ xã, phường mang tính hình thức. Việc kiểm tra thực hiện các nghị quyết của Đảng chưa được nhiều, kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng có lúc, có nơi mang tính hình thức. Tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt Đảng chưa tốt. Còn một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu làm giảm sút lòng tin của quần chúng. Công tác phát triển đảng viên mới nhìn chung còn yếu. Hoạt động của HĐND xã, phường ở một số địa phương hiệu quả chưa cao. Quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực văn hóa, xã hội, đất đai, đô thị, xây dựng cơ bản, du lịch… có lúc, có nơi lỏng lẻo, xử lý vi phạm chậm. Hoạt động của các đoàn thể còn mang nặng tính hành chính, chưa có nhiều đổi mới nên hiệu quả hạn chế. Cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động phong trào có nhiều khó khăn. Chất lượng hiệu quả phong trào quần chúng ở cơ sở chưa vững chắc, chưa toàn diện và liên tục.

Sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và nghị quyết Đại hội lần thứ XV của Đảng bộ thị xã, Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên đã đạt được kết quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và công tác xây dựng hệ thống chính trị. Song, tồn tại trong nhiệm kỳ là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn chậm. Tốc độ phát triển kinh tế chưa cao. Các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội tuy có nhiều tiến bộ nhưng chưa vững chắc. Người lao động còn thiếu việc làm, chưa coi trọng đúng mức việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Đổi mới hệ thống chính trị chưa theo kịp yêu cầu của đổi mới kinh tế. Đội ngũ cán bộ cơ sở khó khăn, phương thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng còn nhiều lúng túng. Từ thực tiễn hoạt động của Đảng bộ nhiệm kỳ XV, rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

- Khi triển khai các nghị quyết của Đảng cần kết hợp việc quán triệt nội dung nghị quyết với xây dựng các đề án và chương trình hành động, có mục tiêu, biện pháp cụ thể, thiết thực để đưa nghị quyết vào cuộc sống.

- Đổi mới nội dung phong cách lãnh đạo trước hết phải xây dựng được quy chế làm việc, chương trình công tác và kế hoạch hành động hàng năm của BCH Đảng bộ. Coi trọng việc ra các nghị quyết chuyên đề, phải bám sát cơ sở chỉ đạo có hiệu quả, qua đó để rèn luyện, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện thực tiễn của cấp ủy và đội ngũ cán bộ.

- Đi đôi với đổi mới công tác quản lý, phải mở rộng quan hệ hợp tác trao đổi kinh nghiệm, tìm kiếm thị trường, coi trọng việc đưa tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, các đơn vị để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội đề ra.

- Phải coi trọng công tác củng cố cơ sở. Tập trung chăm lo công tác cán bộ, coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp đổi mới của địa phương.

 3. Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVI tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện CNH-HĐH theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996-2000)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng được tiến hành tại thủ đô Hà Nội từ ngày 28/6 đến ngày 1/7/1996. Đại hội đã kiểm điểm kết quả 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VII và tổng kết 10 năm đổi mới đất nước (1986-1996), rút ra 6 bài học của công cuộc lãnh đạo đổi mới đất nước.

Để cụ thể hóa nghị quyết Đại hội Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú. Từ ngày 8/12/1996, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XVI. Đại hội đã đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã nhiệm kỳ XV (1991-1995) đã hoàn thành tốt đẹp, nhiều chỉ tiêu đã vượt xa so với mục tiêu của Đại hội đề ra. Kết quả trên đã tạo đà cho Đảng bộ và nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của nhiệm kỳ tới. Đại hội bầu BCH khóa XVI gồm 35 đồng chí, bầu Ban Thường vụ 9 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Đăng Tuân được bầu làm Bí thư, 2 Phó Bí thư là đồng chí Phạm Thanh Long và Nghiêm Xuân Bút.

Trên cơ sở phân tích một cách khách quan tình hình thực tiễn địa phương, nghị quyết Đại hội đã xác định phương hướng chung của Đảng bộ trong nhiệm kỳ XVI là: “Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng là lãnh đạo, khai thác triệt để mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tranh thủ thời cơ thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Tăng đầu tư trong công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ du lịch, giảm tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế”. Để đạt được phương hướng trên, Đại hội đã đề ra 7 nhiệm vụ chủ yếu sau:

1. Tiếp tục tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài địa bàn, mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng. Củng cố, đổi mới kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác, khuyến khích các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Đầu tư chiều sâu có trọng điểm, phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, thủ công nghiệp; thúc đẩy nhanh sự hình thành khu công nghiệp kỹ thuật cao ở xã Khai Quang, khu du lịch Tam Đảo, Đầm Vạc. Phấn đấu để Vĩnh Yên nhanh chóng trở thành một trung tâm phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch của tỉnh.

2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng phát triển ngành nghề, chăn nuôi, mở mang dịch vụ, lựa chọn, bố trí cây trồng có năng suất và giá trị kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và du lịch.

3. Đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa để năm 2000 Vĩnh Yên đủ tiêu chuẩn của đô thị loại 4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý đô thị và bảo vệ môi trường.

4. Coi trọng mở rộng, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn thu trên địa bàn, tăng đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, đảm bảo các yêu cầu chi thường xuyên.

5. Cùng với phát triển kinh tế, phải tích cực giải quyết các vấn đề xã hội, trước hết là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe ban đầu, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm lo những người có công với nước, thương binh, gia đình liệt sỹ, đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, phòng chống tai, tệ nạn xã hội… Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân thị xã.

6. Giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” của địch.

7. Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Bước vào thực hiện nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ thị xã đề ra. Đảng bộ và nhân dân thị xã có những thuận lợi rất cơ bản đó là: Những thắng lợi trong 5 năm qua đã tạo tiền đề thuận lợi để thị xã tiếp tục giành được những thắng lợi lớn hơn. Vĩnh Yên là thị xã có nhiều tiềm năng để phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp như khu nghỉ mát Tam Đảo, Đầm Vạc. Diện tích đồi gò ven thị xã rộng có địa hình tốt để xây dựng các khu công nghiệp tập trung. Giao thông và cơ sở hạ tầng bước đầu được xây dựng, đã tạo điều kiện để thị xã giao lưu hàng hóa, mở rộng thị trường và gọi vốn đầu tư từ bên ngoài. Ngày 01/1/1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, thị xã Vĩnh Yên trở thành trung tâm tỉnh lỵ nên đã được tỉnh và các ngành của tỉnh quan tâm cùng thị xã đầu tư về mọi mặt, đặc biệt là hạ tầng có bước phát triển khá. Tuy vậy, trong nhiệm kỳ Đảng bộ và nhân dân cũng còn khó khăn về vốn và thị trường để phát triển sản xuất. Vĩnh Yên tuy có thuận lợi hơn một số địa phương trong tỉnh nhưng chưa phải là nơi hấp dẫn để thu hút đầu tư so với các địa phương khác xung quanh thủ đô. Nền kinh tế của thị xã nhìn chung phát triển còn chậm, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ. Trình độ năng lực, đội ngũ cán bộ nhìn chung còn hạn chế so với yêu cầu của thời kỳ mới. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiếp tục tác động mạnh đến đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân ta.

Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương và những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua. Tận dụng những điều kiện và thời cơ mới, Đảng bộ và nhân dân thị xã đã nỗ lực phấn đấu, vươn lên thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ kinh tế-xã hội do Đảng bộ đề ra, lập thành tích chào mừng 100 năm thành lập Vĩnh Yên (1899-1999) và 50 năm ngày thành lập tỉnh Vĩnh Phúc (1950-2000). Với quyết tâm như vậy, tình hình kinh tế xã hội của thị xã sau 5 năm đã có những tiến bộ vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực. Nền kinh tế có những bước tiến đột biến, tốc độ tăng trưởng cao ở tất cả các ngành, đặc biệt là thương mại du lịch, công nghiệp và xây dựng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng thương mại và công nghiệp, xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp. Tổng sản phẩm nội thị tăng bình quân trong 5 năm (1996-2000) là 35,7%. Thu nhập bình quân đầu người đạt từ 131 USD năm 1996 lên 220 USD năm 2000.

Đến năm 2000, tỉ trọng ngành thương mại du lịch chiếm 39,5%. Ngành công nghiệp xây dựng chiếm 33% (nếu không tính đến 3 đơn vị mới nhập về Vĩnh Yên là: Phường Đồng Tâm, Hội Hợp và xã Thanh Trù thì cơ cấu kinh tế năm 1999 là: Thương mại du lịch 42,2%, công nghiệp 40%, nông nghiệp 17,8%). So với cơ cấu kinh tế do Đại hội XVI đề ra đều vượt chỉ tiêu.

Sản xuất nông, lâm, thủy sản: Mặc dù trong điều kiện thời tiết khó khăn, hạn hán kéo dài, mưa bão, đất nông nghiệp thu hồi phục vụ cho quy hoạch của tỉnh. Nhưng với tư duy của các cấp ủy Đảng đã hướng dẫn nhân dân lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao thay thế cho các giống cũ đã thoái hóa, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, nên sản xuất nông nghiệp đạt kết quả một cách toàn diện cả về diện tích, năng suất và sản lượng.

Tổng diện tích gieo trồng hàng năm bình quân đạt trên 4000 ha; năng suất lúa bình quân năm 1996 đạt 32,15 tạ/ha, tăng lên 44 tạ/ha năm 2000. Tổng sản lượng quy thóc đạt 17 nghìn tấn năm 1999, nếu không tính 3 đơn vị mới sáp nhập thì tổng sản lượng quy thóc đạt 5.117 tấn (chỉ tiêu Đại hội đề ra là 4.875 tấn). Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 1996 đạt 19.533 triệu đồng, năm 2000 đạt 51.770 triệu đồng. Trong đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt là 28.130 triệu đồng. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi là 20.370 triệu đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm 1996-2000 là 4%. Giá trị 1 ha đất canh tác năm 2000 đạt 23 triệu đồng (chỉ tiêu kế hoạch đề ra 20 triệu đồng).

Ngoài việc sản xuất lương thực, thị xã còn quan tâm đến chương trình sản xuất rau và thực phẩm an toàn trên địa bàn. Đến năm 2000, thị xã đã hình thành vùng chuyên sản xuất rau an toàn từ 15 đến 20 ha (tại Đống Đa và Tích Sơn), quy mô sản xuất từ 100-150 tấn/năm. Diện tích cây rau thực phẩm tăng nhanh. Năm 1996 là 114 ha, năm 2000 là 160 ha, sản lượng đạt trên 3000 tấn/năm.

Chương trình YPM được thị xã đặc biệt quan tâm. Trong 5 năm đã mở 30 lớp YPM cho nông dân và xây dựng nhiều mô hình ứng dụng YPM, đã giảm được thuốc trừ sâu từ 1 đến 1,5 lần. Do chương trình YPM được thực hiện tốt nên trong những năm qua, tỉ lệ sâu bệnh giảm đến mức cho phép (dưới 4%).

Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đã xuất hiện nhiều nhân tố mới như việc áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất (chăn nuôi, trồng trọt) ngày càng nhiều. Phong trào cải tạo vườn tạp, sản xuất rau an toàn, trồng cây ăn quả, trồng hoa, trồng nấm rơm… đang có xu hướng phát triển trong các hộ nông dân.

Các HTX chuyển đổi theo đúng thời gian, đi vào hoạt động có hiệu quả trong các hoạt động dịch vụ như thủy lợi, cung ứng giống mới, vật tư và bảo vệ thực vật. Đến năm 2000, toàn thị xã có 9 HTX nông nghiệp và 2 tổ chức quản lý nông nghiệp do chính quyền quản lý điều hành. Thu nhập và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao.

Sản xuất công nghiệp: Tổng giá trị sản xuất năm 1996 là 21.860 triệu đồng. Năm 2000 là 55.183 triệu đồng. Tốc độ bình quân hàng năm trong 5 năm (1996-2000) của sản xuất công nghiệp là 27,7%.

Công nghiệp quốc doanh nhìn chung giữ vững được nhịp độ sản xuất với các mặt hàng chủ yếu như: Vật tư y tế, vật liệu xây dựng, nước máy, giày da… Giá trị sản xuất năm 1996 đạt 12.634 triệu đồng, năm 2000 đạt 45.791 triệu đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong 5 năm (1996-2000) là 30,7%. Tuy vậy, sản xuất công nghiệp quốc doanh còn gặp khó khăn do công nghệ lạc hậu, năng lực tổ chức, quản lý còn yếu nên chưa chiếm lĩnh được thị trường, quy mô sản xuất còn nhỏ bé.

Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển khá so với những năm trước, nhất là sau khi tỉnh được tái lập. Thành phần kinh tế cá thể phát triển mạnh, nhất là kinh doanh các mặt hàng vật liệu xây dựng, cơ khí, mộc dân dụng, chế biến lương thực, thực phẩm phù hợp với thị trường. Sau khi có Đề án phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh tốc độ phát triển ngày càng mạnh hơn. Giá trị sản phẩm ngoài quốc doanh năm 1996 đạt 9.226 triệu đồng, năm 2000 đạt 23 triệu đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong 5 năm là 22,7%. Tồn tại của sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh là quy mô sản xuất nhỏ, khả năng liên doanh, liên kết mở rộng còn hạn chế, chưa có mặt hàng mũi nhọn, chưa tận dụng hết tiềm năng về lao động, kỹ thuật và các điều kiện thuận lợi khác của địa phương. Tính đến năm 2000 thị xã có 3 công ty trách nhiệm hữu hạn, 3 doanh nghiệp tư nhân, 2 HTX, 20 công ty cổ phần và 3 công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Về xây dựng: Sau khi tái lập tỉnh, trên địa bàn thị xã có 6 công ty xây dựng của tỉnh. Hầu hết các công ty đều cố gắng mở rộng địa bàn xây dựng trong và ngoài tỉnh, đảm bảo việc làm cho công nhân, nộp đủ thuế và có phần tích lũy, mở rộng sản xuất. Giá trị khối lượng sản xuất năm 2000 đạt 83.900 triệu đồng. Hạn chế của các công ty xây dựng là vốn ít, kỹ thuật chưa cao nên tìm kiếm việc làm còn khó khăn. Đối với các tổ đội thợ xây dựng tư nhân phát triển mạnh, kỹ thuật, tay nghề được nâng cao nhanh chóng.

Khó khăn chung của công nghiệp xây dựng là chưa mở rộng thị trường, máy móc, công nghệ còn lạc hậu, hàng hóa ứ đọng. Nhìn chung các doanh nghiệp chậm chuyển biến về hiệu quả kinh doanh, nặng nề về yêu cầu Nhà nước bảo hộ, trợ cấp. Mặt khác, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm các doanh nghiệp chưa được phát huy đầy đủ. Sản xuất chưa gắn liền với thị trường, nhiều sản phẩm sức cạnh tranh thấp hoặc trong khi cung đã vượt cầu nhưng vẫn sản xuất, tài chính doanh nghiệp thiếu lành mạnh, yêu cầu khoanh nợ, đảo nợ hoặc xóa nợ vay… gây không ít khó khăn cho nền kinh tế.

Do tỉnh mới được tái lập và đóng trên địa bàn thị xã nên trong 5 năm qua tốc độ xây dựng cơ bản tăng nhanh. Năm 1996 đầu tư cho xây dựng cơ bản là 14.200 triệu đồng, năm 2000 là 120.000 triệu đồng, 5 năm đầu tư vào thị xã đã xấp xỉ 400 tỉ đồng. Đặc biệt là nguồn vốn đầu tư cho xây dựng trường học đạt khá. Hầu hết các trường học trong thị xã được tầng hóa. Xây dựng và nâng cấp 16 trường cao tầng. Đầu tư cho điện, giao thông và y tế tăng hơn những năm trước. Cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư và xây dựng. Trong 5 năm đã làm mới 24 tuyến đường nội thị với chiều dài 19,7 km dải nhựa, nâng cấp 15,66 km đường nhựa, 53,91 km đường cấp phối, lát 19,600 m2 vỉa hè. Trong 5 năm xây mới được 12 trạm biến áp, lắp mới hơn 800 bóng điện trên các tuyến đường nội thị.

Đối với sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các hộ chưa mạnh dạn, còn lúng túng trong việc đầu tư vốn. Quy mô sản xuất còn nhỏ bé, khả năng liên doanh, liên kết còn hạn chế.

Các hoạt động trên lĩnh vực thương mại dịch vụ, du lịch phát triển sôi động hơn trước. Hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng. Việc thực hiện đề án phát triển thương mại du lịch, dịch vụ và thực hiện nếp sống văn minh thương nghiệp bước đầu có hiệu quả. Thương nghiệp quốc doanh trên địa bàn chỉ còn một cửa hàng. Tổng doanh thu về thương mại, du lịch năm 1996 là 32,826 triệu, năm 2000 là 116.000 đồng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm (1996-2000) là 12,8%.

Thực hiện quy hoạch thị xã tỉnh lỵ của UBND tỉnh phê duyệt, trong 5 năm qua thị xã đã làm quy hoạch mở rộng địa giới hành chính của thị xã. Tổng diện tích quy hoạch từ năm 1997 đến năm 2000 là 758,34 ha. Đã điều chỉnh, xác định địa giới hành chính một số phường. Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng được thực hiện tốt. Từ năm 1997 đến năm 1999, tổng diện tích thu hồi giải phóng mặt bằng là 262 ha.

Công tác quản lý đô thị theo đúng chỉ đạo của tỉnh, sau khi thị xã Vĩnh Yên trở lại là trung tâm tỉnh lỵ. Tốc độ phát triển đô thị nhanh, bình quân các công trình mới được xây dựng với quy mô hiện đại như trụ sở làm việc của các cơ quan, ban ngành của tỉnh, các khu dân cư tập trung, đáp ứng được nơi làm việc của các cơ quan và đời sống cán bộ công nhân viên chuyển từ Việt Trì về.

Do sản xuất phát triển, nên nguồn thu ngân sách hàng năm đều đạt khá, năm sau cao hơn năm trước và đều vượt kế hoạch được giao. Năm 1996, thực thu trên địa bàn có 4,1 tỉ đồng, năm 2000 là 17,69 tỉ đồng. Về chi ngân sách đảm bảo tiết kiệm, đúng quy định của Nhà nước. Song, chưa có đơn vị xã, phường, thị trấn nào tự cân đối được ngân sách.

Tình hình huy động vốn, lao động công ích trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn trong đầu tư cho giao thông nông thôn và công trình công cộng, nhưng việc huy động và cho vay vốn của quỹ tín dụng nhân dân của thị xã đạt khá. Công tác cho vay xóa đói giảm nghèo ngày càng tăng.

Cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế, trên lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Thu nhập đầu người tăng bình quân hàng năm là 10,9%. Năm 2000 đạt 220 USD/người/năm. Các nhu cầu dân sinh như ăn, ở, học hành, phương tiện đi lại, phương tiện nghe nhìn ngày càng phát triển theo hướng đi lên. Tính đến năm 2000, toàn thị xã có 70% số hộ có máy thu hình. Bình quân cứ 100 hộ dân có 6,4 máy điện thoại. Trong 5 năm đã tạo được việc làm cho 3700 người lao động, xóa 83 hộ đói, giảm 355 hộ nghèo, làm giảm tỉ lệ đói nghèo của thị xã từ 9% năm 1996 xuống còn 6,3% năm 2000. Các chính sách xã hội được thực hiện tốt. Các cuộc vận động uống nước nhớ nguồn, nhân đạo từ thiện… được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia một cách tự giác. Từ năm 1996-2000, thị xã Vĩnh Yên đã xây dựng mới, sửa chữa và nâng cấp 47 ngôi nhà tình nghĩa trị giá 548 triệu đồng, tặng 626 sổ tiết kiệm trị giá 126,8 triệu đồng.

Về giáo dục đào tạo: Thực hiện Đề án 01 của Tỉnh ủy, công tác giáo dục của thị xã nhìn chung có nhiều chuyển biến tốt về chất lượng dạy và học, về quy mô trường lớp được phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Kết quả thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi hàng năm ở các cấp học, thị xã luôn là đơn vị mạnh của tỉnh. Thành tích nổi bật trong giáo dục là đầu năm 1999 thị xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và có 2 trường tiểu học đạt tiêu chuẩn quốc gia. Đến năm 2000, 10 xã, phường, thị trấn thuộc thị xã có 247 phòng học cao tầng, chiếm 16% số phòng học kiên cố.

Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ. Tỉ lệ số gia đình đạt danh hiệu văn hóa ngày càng tăng. Năm 1999 có 61,5% số hộ đạt gia đình văn hóa, năm 2000 tăng lên 64%. Số làng đạt tiêu chuẩn văn hóa là 12 làng. Việc thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội mừng thọ theo Chỉ thị 27 của Trung ương và 03 của Tỉnh ủy được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên việc xây dựng các tụ điểm vui chơi, giải trí ở các khu dân cư thực hiện còn chậm.

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức khá sâu rộng và sôi nổi, đặc biệt là tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể 100 năm thành lập Vĩnh Yên (1899-1999) mang ý nghĩa chính trị, văn hóa lịch sử sâu sắc đối với thị xã là trung tâm tỉnh lỵ.

Mạng lưới y tế từ thị xã đến cơ sở được từng bước củng cố, tăng cường cả về cơ sở vật chất, phương tiện khám chữa bệnh đến đội ngũ cán bộ làm y tế. Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh cho nhân dân ngày càng hiệu quả. Các chương trình y tế quốc gia và của tỉnh đều đạt được kết quá tốt, đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch đề ra như chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng dịch, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em… Hoạt động truyền thống, mạng lưới kế hoạch hóa gia đình được tăng cường góp phần làm giảm tỉ lệ phát triển dân số từ 1,35% năm 1996 xuống 1,2% năm 2000. Tuy vậy, việc quản lý hành nghề y, dược tư nhân kết quả chưa cao, còn để có trường hợp vi phạm.

Các lực lượng vũ trang thị xã cùng các ngành, các cấp có sự phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật, xây dựng lực lượng, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Lực lượng vũ trang thường xuyên luyện tập, bổ sung các phương án đối phó với âm mưu “Diễn biến hòa hình” và bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc có bước phát triển mới các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tham gia tích cực hơn. Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại đã góp phần tích cực vào việc duy trì trật tự, kỷ cương trên địa bàn. Nhìn chung trong 5 năm (1996-2000) mật độ tập trung người trên địa bàn ngày càng đông và phức tạp về thành phần, nhưng do làm tốt công tác quốc phòng, an ninh nên tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo không để xẩy ra các vụ việc lớn. Trong 5 năm (1996-2000), thị xã Vĩnh Yên đã xây dựng được lực lượng dự bị động viên theo phương thức mới đạt hiệu quả tốt, nguồn động viên của thị xã chiếm 9,7% so với dân số, trong đó nguồn trong kế hoạch bằng 24,5% so với tổng số quân dự bị. Công tác tuyển quân hàng năm đều hoàn thành tốt các chỉ tiêu trên giao theo đúng luật nghĩa vụ quân sự, đảm bảo công bằng dân chủ. Kết quả sau 5 năm, thị xã đã tuyển 750 thanh niên nhập ngũ đảm bảo chất lượng tốt. Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn nhưng nhìn tổng thể kinh tế của thị xã chưa cập với yêu cầu của thị xã tỉnh lỵ. Kết quả đạt được chưa vững chắc, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, công nghiệp còn thấp, tiểu thủ công nghiệp quy mô còn nhỏ bé, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chậm, việc chế biến và tiêu thụ nông sản khó khăn. Công tác quy hoạch quản lý đô thị còn một số tồn tại. Tính cạnh tranh trong đầu tư chưa cao, vốn đầu tư hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của thị xã. Các lĩnh vực xã hội nhiều bức xúc, đời sống của một bộ phận nông dân gặp nhiều khó khăn. Các tệ nạn xã hội có chiều hướng phát triển.

Để có được những kết quả trên, trong nhiệm kỳ 1996-2000 Đảng bộ thị xã đã làm tốt công tác xây dựng hệ thống chính trị đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp ở địa phương. Công tác xây dựng được xác định là nhiệm vụ then chốt, được đổi mới một bước về phương thức tuyên truyền, lãnh đạo, hướng về cơ sở.

Việc quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy và Thị ủy đến cán bộ đảng viên được triển khai kịp thời. Trên cơ sở những quan điểm của Đảng cấp trên, thị xã đều gắn nhiệm vụ chính trị của địa phương trong quá trình thực hiện từng quan điểm của Đảng, cấp ủy từng cấp đều xây dựng chương trình hành động. Với cách làm thiết thực như vậy, hều hết đảng viên trong Đảng bộ đều nhận thức đúng đắn những quan điểm đổi mới của Đảng. Ngoài ra, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được Đảng bộ luôn quan tâm. Tháng 6/1997, Thị ủy Vĩnh Yên đã thành lập Trung tâm bồi dưỡng chính trị, mặc dù còn có khó khăn về cán bộ, cơ sở vật chất, nhưng ngay từ đầu Trung tâm đã hoạt động đạt hiệu quả tốt. Trong nhiệm kỳ, Đảng bộ đã mở nhiều lớp chuyên đề, cử cán bộ đi học các lớp tập trung, tổ chức nói chuyện thời sự, mở các lớp bồi dưỡng chính trị… Đa dạng hóa các loại hình bồi dưỡng, đào tạo, trong 5 năm (1996-2000) thị xã đã bồi dưỡng cho 4.352 lượt cán bộ đảng viên học tập, cử 600 lượt cán bộ đi học, trong đó Thị ủy và UBND thị xã đã cử 74 lượt cán bộ đi học Đại học chuyên môn và lý luận chính trị, 15 cán bộ đi học trung học, 25 cán bộ đi bồi dưỡng và 39 cán bộ cơ sở học bổ túc văn hóa; đã đề bạt 36 cán bộ trưởng, phó phòng, ban, đoàn thể, các cán bộ được đề bạt đều phát huy tốt. Chế độ sinh hoạt chi bộ được giữ vững, nội dung sinh hoạt có nhiều đổi mới nâng cao chất lượng trong sinh hoạt.

Công tác tổ chức, đổi mới phong trào thi đua phấn đấu xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh được Thị ủy quan tâm. Số đơn vị đạt trong sạch vững mạnh ngày càng tăng. Năm 1996, toàn Đảng bộ có 16 cơ sở đạt trong sạch vững mạnh, năm 1999 tăng lên 34 cơ sở. Công tác phát triển Đảng trong 5 năm kết nạp được 411 đảng viên. Công tác quy hoạch, bố trí, đào tạo cán bộ trong nhiệm kỳ đã làm đúng quy trình hướng dẫn của trên.

Phân loại đảng viên năm 1996, loại 1 chiếm 91,9%, tăng lên 95,5% năm 1999. Đảng viên có đủ tư cách (loại 3) giảm từ 0,64% năm 1996 xuống còn 0,13% năm 1999. Thực hiện đợt phê bình và tự phê bình trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đã được Đảng bộ triển khai một cách nghiêm túc đến từng cán bộ đảng viên. Qua đợt sinh hoạt này, cán bộ đảng viên đã có sự chuyển biến đáng kể về nhận thức. Các tổ chức Đảng được nâng cao một bước về vai trò lãnh đạo.

Công tác kiểm tra của Đảng bộ được thực hiện theo Điều lệ Đảng quy định. Ủy ban kiểm tra các cấp trong nhiệm kỳ đã xây dựng được chương trình kiểm tra về chấp hành Điều lệ Đảng, về thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Trong 5 năm (1996-2000), Đảng bộ đã tiến hành kiểm tra 48 đảng viên có dấu hiệu vi phạm và đã phát hiện 31 đảng viên vi phạm. Qua kiểm tra xử lý kỷ luật 41 đảng viên. Công tác kiểm tra đã góp phần ngăn chặn những vi phạm, khuyết điểm của các tổ chức Đảng và đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng trước nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, hoạt động của HĐND các cấp được duy trì đúng lịch. Nội dung các kỳ họp được đổi mới, sát với tình hình thực tế của địa phương. Hoạt động của Hội đồng có nhiều biện pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc triển khai các Nghị quyết 29/CP, 71/CP… Nhiều cơ sở đã cụ thể hóa thành quy chế. Hoạt động nổi bật của chính quyền trong nhiệm kỳ là tổ chức và triển khai tốt bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 1999-2004 và bầu đại biểu Quốc hội khóa X. Sau mỗi lần bầu cử, HĐND được kiện toàn một bước, cơ quan hội đồng và UBND 2 cấp. Đội ngũ cán bộ chính quyền từ thị đến cơ sở ngày càng nâng cao về chất lượng và hiệu quả công tác. HĐND các cấp tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri với nhiều hình thức nhằm thu thập được nhiều hơn tâm tư nguyện vọng của cử tri với Đảng và chính quyền để có những quyết định đúng đắn, hợp lòng dân. UBND các cấp từ thị đến cơ sở ngày càng nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước theo pháp luật. Kịp thời ban hành các văn bản pháp quy, xây dựng quy hoạch, kế hoạch, Đề án phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, rà soát các văn bản, cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa nhằm nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý Nhà nước ở địa phương.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong nhiệm kỳ có nhiều đổi mới về công tác tập hợp thành viên, hội viên, đoàn viên và phương thức hoạt động ngày càng thiết thực hiệu quả. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là hướng về cơ sở, củng cố đơn vị yếu kém bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng để tập hợp hội viên. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của thị xã tính đến năm 2000 đã tăng lên 3700 đoàn viên, hội Cựu chiến binh tăng 1200 hội viên, hội Phụ nữ tăng 3500 hội viên… Nhiều cuộc vận động lớn như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới”, “Thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước”, “Giúp nhau làm kinh tế giỏi”, “Xóa đói giảm nghèo”… đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Qua đó mỗi thành viên, đoàn viên, hội viên thêm gắn bó với tổ chức, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh tế-xã hội và nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra. Với những thành tích đạt được toàn diện của Đảng bộ thị xã, năm 1999 được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, năm 2001 thị xã Vĩnh Yên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp.

Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Với tinh thần năng động, chủ động, sáng tạo, Thị ủy Vĩnh Yên đã vận dụng đường lối đổi mới của Đảng một cách phù hợp vào thực tiễn của địa phương, để phát huy những tiềm năng, thế mạnh và cơ hội của một thị xã tỉnh lỵ mới được tái lập, xây dựng thị xã theo hướng đô thị văn minh, hiện đại. Kết quả sau hơn 3 năm tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, diện mạo của thị xã có nhiều khởi sắc. Kinh tế xã hội phát triển ngày càng vững chắc, an ninh quốc phòng được củng cố. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện đáng kể về vật chất và tinh thần. Hệ thống chính trị được đổi mới, phát huy tốt vai trò lãnh đạo ở địa phương. Những kết quả trên đã tạo ra tiền đề mới, thời cơ mới, để Đảng bộ và nhân dân thị xã tiếp tục vươn lên giành được những thắng lợi to lớn hơn ở chặng đường tiếp theo.



([1]) Đảng Cộng sản Việt Nam-Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NBX sự thật HN 1987, tr 19.

([2]) Đảng Cộng sản Việt Nam-Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NBX sự thật HN 1987, tr 26, 27.