ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2000-2014)

05/10/2017

1. Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh CNH-HĐH theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2000-2005)

Năm 2000 kết thúc thế kỷ XX cũng là năm đất nước ta tổng kết 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý, con đường đi lên xây dựng CNXH ngày càng được xác định rõ hơn. Với sự cố gắng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, ngang tầm với vị trí trung tâm chính trị, kinh tế-xã hội của tỉnh. Đó là cơ sở vững chắc, là những tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên vững vàng bước vào thế kỷ XXI.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và kế hoạch hướng dẫn của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về Đại hội Đảng các cấp, từ ngày 21 đến ngày 22/11/2000 Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên đã tiến hành Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII. Đây là Đại hội quan trọng, Đảng bộ đã tiến hành tổng kết chặng đường cách mạng 70 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ thị xã, đặc biệt là tổng kết 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII với quan điểm phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt.

Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã khóa XVI tổng kết công tác nhiệm kỳ (1996-2000); thông qua báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã khóa XVI; báo cáo kết quả thực hiện đợt sinh hoạt chính trị tự phê bình, phê bình theo tinh thần nghị quyết Trung ương 5 và Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII của Đảng; thông qua các báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng, dự thảo Điều lệ Đảng sửa đổi; dự thảo báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIII.

Phần đánh giá những kết quả đạt được sau 15 năm đổi mới và nhất là sau 4 năm tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập (1997-2000), thị xã Vĩnh Yên đã có bước phát triển tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội. Cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ sở hạ tầng đô thị đang được xây dựng ngày càng khang trang, hiện đại đáp ứng yêu cầu của một thị xã tỉnh lỵ. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện một bước đáng kể. Trình độ dân trí được nâng lên một bước. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể được đổi mới. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ đã tạo thêm sức mạnh và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Đại hội đã mạnh dạn, thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, yếu kém của Đảng bộ thị xã cần phải tập trung khắc phục trong nhiệm kỳ tới. Về phương hướng, Đại hội đã xác định trong nhiệm kỳ XVII Đảng bộ thị xã sẽ tập trung phát triển các thành phần kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong 5 năm tới, cơ cấu kinh tế của thị xã tiếp tục phát triển theo hướng thương mại, du lịch, công nghiệp-nông nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển thương mại, du lịch, tạo lập các cơ sở hạ tầng thuận lợi, có cơ chế thích ứng để thu hút đầu tư vào công nghiệp, du lịch. Tích cực chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, sản phẩm sạch phục vụ nhu cầu của đô thị.

Phát triển hạ tầng, trong đó tập trung xây dựng: Điện, đường, nước vào khu công nghiệp Khai Quang, Lai Sơn, khu du lịch Đầm Vạc, Tam Đảo, hoàn thiện các chợ theo từng giai đoạn vững chắc thành một hệ thống. Phấn đấu đến năm 2005, thị xã Vĩnh Yên đạt được những tiêu chí cơ bản của đô thị loại III.

Nâng cao một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định về chính trị, tiếp tục xây dựng bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong sạch, vững mạnh; có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của một đô thị phát triển.

Từ phương hướng chung, Đại hội đã thông qua một số mục tiêu chủ yếu: Trong 5 năm tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của thị xã là 12,4%; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng thương mại, du lịch và công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2005 cơ cấu kinh tế của thị xã: Thương mại-du lịch đạt 42,7%, công nghiệp 38,4%, nông nghiệp 18,8%. Doanh thu thương mại, du lịch tăng bình quân hàng năm là 17,7%. Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân hàng năm là 16,2%, trong đó công nghiệp tăng 20,1% (Quốc doanh tăng 18,1%, ngoài quốc doanh tăng 23,8%), xây dựng tăng 12,4%. Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân hàng năm từ 4-4,5%. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 18.490 tấn. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm từ 10-11%/năm. Đến năm 2005, thị xã phấn đấu đạt 350-360 USD/người/năm. Giải quyết việc làm cho 5000-5500 chỗ làm mới. Phấn đấu đến năm 2005, thị xã có 50% số làng và 70% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa. Giảm hộ nghèo bình quân hàng năm là 0,7%; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đạt 1,1%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 15%; tỷ lệ hộ dùng nước sạch khu vực nội thị là 100%, khu vực nông thôn là 78%. Số tổ chức Đảng đạt trong sạch, vững mạnh chiếm trên 64%; hàng năm kết nạp từ 130-140 đảng viên mới.

Với tinh thần thật sự dân chủ, trách nhiệm cao trước Đảng bộ và nhân dân, Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ thị xã khóa XVII nhiệm kỳ (2000-2005) gồm 33 đồng chí, bầu Ban Thường vụ gồm 11 đồng chí, đồng chí Kim Nam được bầu làm Bí thư, đồng chí Trần Ngọc Ái và đồng chí Lại Hữu Lân được bầu làm Phó Bí thư.

Bước vào thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII nhiệm kỳ 2000-2005 trong bối cảnh có nhiều thuận lợi. Đó là thành tựu của 15 năm đổi mới. Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để thị xã phát triển kinh tế-xã hội. Đặc biệt là Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII ngày 12/3/2001 đề ra 10 chương trình kinh tế-xã hội trọng điểm của tỉnh phải tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ là:

1. Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

2. Chương trình trồng 6000 ha rừng và bảo vệ rừng hiện có.

3. Chương trình phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp.

4. Chương trình xây dựng đô thị và nông thôn mới.

5. Chương trình phát triển các khu du lịch tập trung.

6. Chương trình dân số, việc làm và xóa đói giảm nghèo.

7. Chương trình phát triển khoa học công nghệ và môi trường.

8. Chương trình phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và dịch bệnh HIV/AISD.

9. Chương trình giáo dục đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nâng cao tay nghề cho người lao động.

10. Chương trình kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại bộ máy của hệ thống chính trị.

Riêng đối với thị xã Vĩnh Yên, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 02/NQ-TU “Về phương hướng chủ yếu phát triển thị xã Vĩnh Yên giai đoạn 2001-2005” nhằm phát triển thị xã Vĩnh Yên tương xứng ngang tầm với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh. Đó là những thuận lợi rất cơ bản tác động trực tiếp đến sự phát triển của thị xã.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiến hành ngày 19/4/2001 thành công tốt đẹp là nguồn cổ vũ, động viên to lớn để Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, trong đó có Đảng bộ và nhân dân thị xã Vĩnh Yên vươn lên hoàn thành tốt kế hoạch do Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII đề ra.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII, Vĩnh Yên cũng còn nhiều khó khăn, thách thức đó là: Nền kinh tế của thị xã phát triển chưa thật sự bền vững, cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu, quản lý đô thị còn nhiều mặt chưa đồng bộ. Các vấn đề xã hội như tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội… còn nhiều diễn biến phức tạp. Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự phối hợp của các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, Đảng bộ và nhân dân thị xã đã tập trung nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị, thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII đề ra.

Sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ, nền kinh tế của thị xã phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng luôn đạt ở mức cao, vượt các chỉ tiêu do Đại hội XVII đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Bình quân 5 năm đạt 18,7%/năm, tăng 6,3% so với mục tiêu Đại hội. Trong đó công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 33,8%, thương mại-dịch vụ tăng 15,1%/năm, nông-lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng thương mại-dịch vụ, công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Đến năm 2005, cơ cấu kinh tế của thị xã là: Thương mại-dịch vụ 56,3%, công nghiệp-xây dựng 36,5%, nông nghiệp 7,2% (cơ cấu kinh tế Đại hội XVII đề ra là: Thương mại-dịch vụ 42,8%, công nghiệp 38,4%, nông nghiệp 18,8%).

Ngành công nghiệp-xây dựng trong 5 năm liên tục giữ được tốc độ tăng trưởng cao ở tất cả các thành phần kinh tế. Giá trị sản xuất công nghiệp-xây dựng (giá cố định năm 1994) tăng từ 200 tỷ đồng năm 2000 lên 1.350 tỷ đồng năm 2005, đạt tốc độ bính quân 46,5%/năm, tăng 3 lần so với mục tiêu Đại hội đề ra và gấp 2 lần so với tốc độ tăng bình quân của tỉnh, trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 33,6%/năm; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 43 lần so với năm 2000, tăng bình quân 75%/năm; công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 58,2%/năm, chiếm 29% cơ cấu công nghiệp toàn thị xã. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng 9,3%. Có được kết quả trên là các cấp, các ngành đã vận dụng sáng tạo chủ trương của tỉnh về phát triển công nghiệp, chương trình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh của thị xã và các quy định về ưu đãi đầu tư trên địa bàn đã thu hút được 26 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 101,4 triệu USD, 12 dự án có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là 352,3 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho gần 10.000 lao động. Các thành phần kinh tế đã có sự năng động trong việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, đầu tư thiết bị, mở rộng kinh doanh, tìm kiếm thị trường.

Mặc dù tốc độ phát triển kinh tế chung của toàn ngành công nghiệp đạt cao, song chưa đồng đều giữa các thành phần kinh tế. Tốc độ tăng cao chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty và hộ cá thể. Công nghiệp quốc doanh nhìn chung còn lạc hậu, giá thành sản phẩm cao. Công nghiệp ngoài quốc doanh quy mô còn nhỏ bé, chưa thật sự mạnh dạn đầu tư. Việc thực hiện chính sách đối với người lao động ở một số doanh nghiệp chưa đầy đủ. Việc đào tạo tay nghề cho người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động.

Cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, thị xã đã tập trung phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh theo cụm, điểm kinh tế-xã hội, khuyến khích các hộ đầu tư phát triển theo mục tiêu Nghị quyết 02 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra. Bước đầu đã hình thành điểm công nghiệp Tích Sơn và cụm kinh tế-xã hội doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ với số vốn đầu tư gần 23 tỷ đồng. Các khu, cụm, điểm công nghiệp tập trung trên địa bàn được hình thành trong những năm qua đã góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách thị xã; tạo môi trường thu hút đầu tư bên ngoài, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động và kích thích dịch vụ phát triển, góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã. Các doanh nghiệp nhà nước từng bước cổ phần hóa, đổi mới thiết bị, chuyển đổi mặt hàng nên sản xuất dần đi vào ổn định, hiệu quả.

Về thương mại và dịch vụ tiếp tục có bước phát triển mới theo chương trình định hướng của tỉnh. Sau 5 năm (2000-2005) hoạt động thương mại-dịch vụ và du lịch có tốc độ phát triển nhanh hơn so với các ngành kinh tế khác. Hàng hóa phục vụ ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, hiện tượng hàng giả, hàm kém chất lượng giảm nhiều. Văn minh, văn hóa trong thương mại-dịch vụ và du lịch có nhiều tiến bộ. Một số lĩnh vực kinh doanh vận tải, cung cấp điện, nước, dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục được đầu tư, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, đáp ứng nhu cầu đời sống và phát triển kinh tế-xã hội trong và ngoài địa bàn thị xã. Giá trị ngành thương mại-dịch vụ tăng từ 291 tỷ đồng năm 2000 lên 842 tỷ đồng năm 2005, tốc độ tăng bình quân là 23,7%/năm, tăng 6% so với mục tiêu Đại hội XVII đề ra. Trong đó thương mại tăng 24,7%/năm, du lịch-dịch vụ tăng 2,6%/năm. Số cơ sở kinh doanh dịch vụ tăng từ 1605 cơ sở năm 2000 tăng lên 2931 cơ sở năm 2005. Có được kết quả trên là do Nhà nước ban hành một số cơ chế thông thoáng hơn về thủ thục hành chính trong hoạt động kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi để các hoạt động thương mại-dịch vụ và du lịch phát triển. Ngoài sự năng động, nhạy bén của các đơn vị, hộ kinh doanh, thị xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế, tạo tiền đề cho sự phát triển như: Xây dựng chợ Bảo Sơn, chuẩn bị đầu tư xây dựng chợ Đồng Tâm, cải tạo, nâng cấp chợ trung tâm thị xã. Việc đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng như: Khu đô thị chùa Hà Tiên, Nam-Bắc Đầm Vạc, khu vui chơi, giải trí Trại Ổi, các nhà hàng, khách sạn… đã thúc đẩy các loại hình dịch vụ phát triển.

Cùng với kết quả trên, các ngành dịch vụ vận tải, tín dụng, ngân hàng, điện lực, bưu chính viễn thông phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ đời sống của nhân dân. Tính đến năm 2005, 100% hộ dân thị xã được dùng điện, 85% dân nội thị được cung cấp nước máy.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thương mại-du lịch và dịch vụ vẫn còn khó khăn như giá cả một số mặt hàng thiết yếu còn tăng do biến động của thị trường, làm cho giá cả một số sản phẩm tăng theo ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng. Mặt khác, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ và hoàn thiện, việc khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương trong lĩnh vực thương mại-du lịch còn hạn chế. Việc thu hút đầu tư, mở rộng các tụ điểm vui chơi, giải trí, khách sạn, nhà hàng hiệu quả chưa cao.

Ngành nông-lâm nghiệp, thủy sản có sự chuyển biến tích cực, phát triển tương đối toàn diện, giá trị sản xuất tăng 4%/năm, hoàn thành mục tiêu Đại hội đề ra. Trong đó, nông nghiệp tăng bình quân 3,5%/năm, thủy sản tăng 13,4%/năm, lâm nghiệp tăng 4,7%/năm. Giá trị sản xuất ngành nông-lâm nghiệp, thủy sản trong cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng; tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm 12% năm 2000 xuống còn 3,6% năm 2005. Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành có sự chuyển dịch tích cực: Giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng giá trị chăn nuôi, thủy sản và ngành nghề.

Về trồng trọt do đẩy mạnh thâm canh và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới về giống, nên năng xuất cây trồng đều tăng. Giá trị kinh tế trên 1 ha canh tác đạt 32,76 triệu đồng, tăng 9,76 triệu đồng so với năm 2000. Bước đầu hình thành được vùng chuyên canh trồng rau sạch, an toàn ở Tích Sơn, Định Trung; trồng cây cảnh ở Đồng Tâm, Liên Bảo, Tích Sơn, Đống Đa; vùng sản xuất giống ở Hội Hợp; trồng nấm ở Thanh Trù. Chương trình cải tạo vườn, trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như: Vải, Nhãn, Xoài, Na được triển khai ở nhiều hộ gia đình.

Chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 2,4%/năm, chất lượng đàn bò được tăng lên, trong đó 65% lai Sind, tăng 23% so với năm 2000. Đàn bò sữa đến năm 2000 có 123 con, sản lượng sữa đạt gần 200 tấn/năm. Đàn lợn tăng cả quy mô đàn và chất lượng, năm 2005 đạt 25.200 con, tăng bình quân 3,0%/năm, trong đó đàn lợn lai chiếm 98%. Mặc dù năm 2004 phải tiêu hủy 100% đàn gia cầm do dịch cúm, nhưng do có sự hỗ trợ đầu tư về giống, kỹ thuật và làm tốt công tác phòng dịch nên năm 2005 thị xã đạt 180.000 con, tăng bình quân 2,25%/năm. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng bình quân 0,7%/năm, sản lượng tăng bình quân 5,05%/năm.

Hoạt động dịch vụ của hợp tác xã có nhiều cố gắng, bước đầu đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nông nghiệp; công tác quản lý kinh tế, quản lý tài chính từng bước được đổi mới và bước đầu có hiệu quả.

Do có sự phát triển đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế nên thu ngân sách trên địa bàn liên tục tăng. Trong 5 năm (2001-2005), tổng thu ngân sách đạt 128 tỷ đồng, tăng bình quân 27,7%/năm. Thu, chi ngân sách hàng năm đều vượt chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh và Hội đồng nhân dân thị xã giao. Do nguồn thu tăng nên thị xã đã đảm bảo được các nhu cầu chi thường xuyên, tăng đầu tư cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng và đáp ứng được các nhu cầu đột xuất ở địa phương. Công tác xây dựng, phát triển và quản lý đô thị được tăng cường theo đúng kế hoạch của tỉnh phê duyệt điều chỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Phối hợp với các ngành của tỉnh tập trung hoàn thành quy hoạch chi tiết khu đô thị chùa Hà Tiên, khu đô thị Bắc-Nam Đầm Vạc, khu dịch vụ Trại Ổi… quy hoạch chi tiết các khu dân cư, công sở, hệ thống giao thông, các công trình công cộng, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng hiện có. Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất ở cấp xã, phường giai đoạn 2001-2010. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, làm tốt công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế vào địa phương. Trong 5 năm, thị xã đã huy động được 1.173 tỷ đồng, bằng 141% kế hoạch giai đoạn 2001-2005.

Triển khai xây dựng hệ thống đường vành đai thị xã, cải tạo, nâng cấp tuyến quốc lộ 2A, xây dựng mới tuyến đường đôi chùa Hà Tiên, đường vào khu công nghiệp, đường vào khu dân cư, cải tạo tuyến đường nội thị, thực hiện tốt chương trình phát triển giao thông của thị xã. Nâng cấp, cải tạo hệ thống điện cao thế và các trạm điện trung gian, đảm bảo bán điện trực tiếp đến người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu sản xuất. Hoàn thành hệ thống cấp nước thị xã với công suất là 16.000 m3/ngày, đêm, gấp 2,5 lần so với năm 2000. Hoàn thiện việc cấp, thoát nước ở các khu, cụm công nghiệp, khu dân cư mới, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của nhân dân. Các công trình công cộng, hạ tầng đô thị được quan tâm đầu tư, nâng cấp như trụ sở UBND các xã, phường, xây dựng mới các trường học, trung tâm y tế thị xã, các thiết chế văn hóa ở cơ sở, các khu văn hóa, thể thao ở các khu dân cư được quan tâm xây dựng. Năm 2004 thị xã triển khai thực hiện Đề án đặt tên đường, tên phố, số nhà, quy định các tuyến đường cấm xe súc vật kéo, đẩy mạnh vệ sinh môi trường, khơi thông hệ thống thoát nước, thu gom rác thải. Công tác quản lý, chăm sóc cây xanh được thực hiện tốt, đảm bảo được môi trường thị xã luôn xanh, sạch, đẹp. Việc quản lý, vận hành hệ thống đèn chiếu sáng đô thị đảm bảo hình thức, chất lượng. Bên cạnh những kết quả đạt được thị xã vẫn còn một số tồn tại như: Công tác quy hoạch, tạo quỹ đất các khu dân cư còn chậm; công tác đền bù, giải phóng mặt bằng ở một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn; công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng ở một số xã, phường còn bị xem nhẹ.

Thực hiện Nghị định số 153/2003/NĐ-CP về thành lập huyện Tam Đảo mới. Từ ngày 1/1/2004, thị trấn Tam Đảo núi thuộc thị xã Vĩnh Yên được chuyển về huyện Tam Đảo mới. Ngày 23/11/2004 phường Khai Quang được thành lập trên cơ sở xã Khai Quang trước đó. Từ năm 2006, thị xã Vĩnh Yên nâng lên thành thành phố trực thuộc tỉnh với 9 đơn vị hành chính trực thuộc là: Các phường Ngô Quyền, Liên Bảo, Đống Đa, Tích Sơn, Hội Hợp, Đồng Tâm, Khai Quang và các xã Định Trung, Thanh Trù.

Cùng với việc phát triển kinh tế, Đảng bộ thị xã luôn quan tâm đến công tác văn hóa xã hội trên địa bàn. Trước hết là việc thực hiện tốt các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước một cách kịp thời, đầy đủ, đúng chế độ đối với các đối tượng chính sách. Các chương trình, mục tiêu việc làm và xóa đói, giảm nghèo nhằm nâng cao mức sống cho nhân dân luôn được Đảng bộ thị xã quan tâm. Trong 5 năm thị xã đã giải quyết việc làm cho trên 8000 lao động, tăng 45,5% so với mục tiêu Đại hội đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 6,3% năm 2000 xuống còn 3% năm 2005, bình quân mỗi năm giảm 0,7%. Bằng nguồn vốn hỗ trợ và đóng góp của nhân dân, đến năm 2005 thị xã đã xóa xong nhà tạm, nhà tranh tre, dột nát. Xây dựng và sửa chữa 82 nhà tình nghĩa trị giá 1,426 tỷ đồng. Công tác thi đua khen thưởng đã kịp thời động viên và biểu dương các nhân tố tích cực, nhân tố mới trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của thị xã. Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động nhân đạo từ thiện được thực hiện đầy đủ, thường xuyên. Đến năm 2005 thu nhập bình quân đầu người của thị xã tăng 3,6 lần so với năm 2000, cao hơn 1,5 lần so với bình quân chung của tỉnh.

Năm 2004, HĐND tỉnh đã ra Nghị quyết về việc đặt tên cho 52 tuyến đường và phố trên địa bàn Vĩnh Yên. Trong đó có 13 tuyến đường, phố sử dụng tên danh nhân, địa danh tỉnh Vĩnh Phúc và 39 tuyến đường, phố đều lấy tên danh nhân hoặc địa danh tỉnh ngoài.

Sự nghiệp giáo dục-đào tạo phát triển nhanh và toàn diện cả về quy mô, chất lượng, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng được nâng cao, giáo dục mũi nhọn được quan tâm, chú trọng. Số học sinh giỏi từ cấp thị đến cấp tỉnh, quốc gia ngày càng tăng. Trong 5 năm, thị xã có 1.466 học sinh đạt giải cấp tỉnh, 49 học sinh đạt giải quốc gia, có 2 học sinh đạt huy chương vàng quốc tế môn Toán và Vật lý quốc tế. Giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập THCS năm 2002. Cơ sở vật chất ở các trường học ngày càng được tăng cường. Đến năm 2005, thị xã có 25/25 trường phổ thông các cấp có nhà học cao tầng, tăng 7 trường so với năm 2000; tỷ lệ phòng học cao tầng đạt 84% (tỉnh 70%). Đội ngũ giáo viên được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, 98% giáo viên đạt chuẩn trở lên.

Giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục thường xuyên, dạy nghề trên địa bàn phát triển đa dạng, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng lên, thu hút mỗi năm hàng nghìn người theo học. Số lao động được đào tạo nghề từ 15% năm 2000 tăng lên 20% năm 2005. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, trình độ dân trí ngày càng được nâng lên. Tính đến năm 2005, thị xã có 2 trường mầm non, 8 trường tiểu học, 1 trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

Khoa học công nghệ và thông tin được ứng dụng rộng rãi để phát triển kinh tế-xã hội đem lại hiệu quả kinh tế và quản lý, điều hành của nhà nước; phục vụ tích cực cho công tác cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”.

Sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm, chất lượng khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế ngày càng được nâng lên. Đội ngũ cán bộ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng, 9/9 xã, phường đều có bác sĩ, đạt tỷ lệ 4,3 bác sĩ/1 vạn dân, bằng mức bình quân chung của tỉnh. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện đầy đủ, 100% trẻ em được tiêm chủng đủ 6 loại vác xin, công tác vệ sinh phòng dịch được thực hiện tốt; trên địa bàn thị xã không để xẩy ra các dịch bệnh lớn về người.

Công tác dân số-gia đình và trẻ em được triển khai rộng khắp thông qua các hoạt động truyền thông, mạng lưới dịch vụ, góp phần làm giảm tỷ lệ phát triển dân số và nâng cao chất lượng dân số. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thị xã đến năm 2005 là 1,03%, giảm 0,07% so với mục tiêu đại hội. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 18,5%, giảm 11,5% so với năm 2000.

Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, góp phần nâng cao thể lực, chất lượng hưởng thụ văn hóa của người dân. Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa được tiến hành đồng bộ. Đến năm 2005, toàn thị xã có 80% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa, tăng 10% so với mục tiêu Đại hội, có 55/112 làng, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa, tăng 5 đơn vị so với mục tiêu Đại hội đề ra.

Thực hiện tốt nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội mừng thọ theo tinh thần Chỉ thị 27-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 03-CT/TU của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Đời sống văn hóa ở cơ sở có nhiều khởi sắc, cơ sở vật chất phục vụ cho văn hóa-thể thao quần chúng phát triển mạnh ở nhiều nơi, đã có 55 nhà văn hóa khu dân cư được cải tạo và xây dựng mới trong nhiệm kỳ. Các giá trị văn hóa truyền thống được khơi dậy, các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng được bảo tồn, tôn tạo. Hệ thống truyền thanh từ thị xã đến xã, phường được củng cố, tăng cường, đã làm tốt công tác thông tin tuyên truyền kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân. Công tác quản lý văn hóa được đẩy mạnh, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hiện tượng tiêu cực nảy sinh trên địa bàn.

Công tác quốc phòng-an ninh được củng cố, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác an ninh có nhiều cố gắng thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về “Chiến lược an ninh quốc gia” và thực hiện Nghị quyết 09 của Chính phủ về chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy. Thành tích nổi bật của công tác an ninh trong nhiệm kỳ là tham gia bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và cuộc bầu cử HĐND nhiệm kỳ (2004-2009).

Thực hiện nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quân sự quốc phòng. Trong nhiệm kỳ XVII, Đảng bộ thị xã làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, nâng cao chất lượng dân quân tự vệ. Kết quả công tác huấn luyện, công tác dự bị động viên hàng năm của thị xã đều hoàn thành tốt. Hàng năm, thị xã đều đạt 100% chỉ tiêu, kế hoạch tuyển quân trên giao, đảm bảo chất lượng an toàn và đúng luật. Đặc biệt, năm 2004 thị xã đã tổ chức thành công diễn tập phòng thủ thị xã đạt kết quả xuất sắc.

Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, không để xẩy ra tình trạng khiếu kiện kéo dài, vượt cấp. Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật được tăng cường, góp phần nâng cao hiểu biết về pháp luật cho cán bộ và nhân dân.

Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân không ngừng được củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả.

Hội đồng nhân dân các cấp từng bước được đổi mới về hình thức tổ chức các kỳ họp, các kỳ họp đã đi sâu tập trung bàn và quyết định những nội dung trọng tâm, quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh. Thực hiện tốt công tác kiểm tra việc thực hiện các chính sách xã hội ở địa phương. Tập trung các kiến nghị của cử tri phản ánh kịp thời đến cấp trên, đôn đốc, giải quyết kịp thời những kiến nghị của cử tri trong thẩm quyền. Phối hợp với các đoàn thể nhân dân nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri trong các kỳ họp, phát huy dân chủ theo đúng quy định của pháp luật, thực hiện quy chế phân công, phân nhiệm rõ ràng. Thực tế trên đã tạo ra sự thống nhất cao trong công tác quản lý, điều hành, giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn của thị xã đặt ra.

UBND các cấp từng bước được nâng cao năng lực quản lý, điều hành trên các lĩnh vực. Cụ thể hóa nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII bằng việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thị xã bằng các Đề án, kế hoạch cụ thể. Trong chỉ đạo, điều hành đã xác định những việc trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo, có nhiều giải pháp cụ thể triển khai các dự án đầu tư, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào thị xã. Vai trò quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội được tăng cường. Cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa” được đẩy mạnh. Cơ chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện tốt. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo được kịp thời, góp phần lập lại trật tự, kỷ cương xã hội trên địa bàn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động, điều hành của chính quyền các cấp vẫn còn một số tồn tại, nhất là chính quyền cơ sở trong việc tổ chức thực hiện, xây dựng các chương trình dự án để cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết còn chậm. Việc chỉ đạo phát triển sản xuất công nghiệp, hoạt động dịch vụ và giải quyết việc làm cho người lao động đạt kết quả chưa cao. Việc giải phóng mặt bằng ở một số khu vực còn chậm. Công tác kiểm tra, thanh tra và thực hiện Hiến pháp, pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số cơ sở còn hạn chế. Việc triển khai thực hiện chương trình công tác chuyên môn ở một số phòng, ban của thị xã hiệu quả chưa cao. Còn có xã, phường có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, chưa chủ động, năng động vượt khó để hoàn thành kế hoạch được giao.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp được củng cố và có nhiều đổi mới, từng bước đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, thu hút, tập hợp ngày càng nhiều thành viên, hội viên, đoàn viên tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Hoạt động nổi bật của Mặt trận Tổ quốc trong nhiệm kỳ là tham gia tích cực, hiệu quả cuộc bầu cử Quốc hội khóa XI và tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa… thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền. Hướng dẫn và chỉ đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp và tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc thị xã lần thứ XVII tháng 11/2003 thành công.

Công đoàn các cấp làm tốt công tác vận động, tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng giai cấp công nhân, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nâng cao bản lĩnh chính trị, gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật.

Đoàn thanh niên vẫn là lực lượng xung kích đi đầu trong các phong trào, tiêu biểu là hai phong trào lớn: “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”. Công tác tập hợp lực lượng thanh niên, phát triển đoàn viên được các cấp đoàn của thị xã quan tâm chú trọng. Trong nhiệm kỳ, toàn thị xã kết nạp được 2.900 đoàn viên. Số đoàn viên mới đã phát huy tốt vai trò của tuổi trẻ trong học tập, lao động và công tác.

Hội phụ nữ các cấp tổ chức tốt các phong trào thi đua, bám sát 6 chương trình công tác trọng tâm và nhiệm vụ chính trị, kinh tế-xã hội của địa phương, để triển khai các nội dung hoạt động của Hội. Tiêu biểu hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ là triển khai thực hiện tốt phong trào: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo-xây dựng gia đình hạnh phúc”. Qua phong trào đã góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ trong thời kỳ đổi mới. Trong nhiệm kỳ, Hội phụ nữ thị xã đã kết nạp thêm 3.600 hội viên mới.

Hội nông dân làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nông dân tích cực thi đua lao động sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, lựa chọn vật nuôi, cây trồng có hiệu quả kinh tế cao. Đẩy mạnh phong trào xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, xây dựng nông thôn mới. Trong nhiệm kỳ, số hội viên tham gia công tác Hội là 1.035 người.

Hội cựu chiến binh đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng hội, tổ chức thành công Đại hội cựu chiến binh thị xã nhiệm kỳ (2002-2007). Hội đã tổ chức quán triệt Nghị quyết số 09 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 05 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng Hội cựu chiến binh trong tình hình mới. Tiến hành sơ kết 10 năm thực hiện phong trào xóa đói, giảm nghèo trong hệ thống Hội. Tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Quan tâm đến công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, góp phần ổn định tình hình chính trị ở địa phương.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, tạo sự thống nhất trong toàn Đảng bộ; vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng lên. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhiệm kỳ tập trung vào việc tổ chức quán triệt, triển khai kịp thời các chỉ thị, nghị quyết của Đảng mà trọng tâm là các nghị quyết và kết luận của các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và đẩy mạnh xây dựng các chương trình, đề án để thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Đảng. Tuyên truyền giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền đã có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức để tăng cường đưa thông tin về cơ sở. Công tác tư tưởng của các cấp ủy đã bám sát định hướng của Trung ương, của tỉnh, nhiệm vụ của cấp ủy để tuyên truyền, vận động cán bộ đảng viên. Động viên cán bộ và nhân dân hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của thị xã. Trung tâm bồi dưỡng chính trị thị xã trong 5 năm đã mở được 115 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên; bình quân hàng năm Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thị xã mở trên 20 lớp bồi dưỡng lý luận nghiệp vụ cho hàng nghìn lượt học viên của các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, góp phần nâng cao nhận thức về lý luận chính trị cho đảng viên, đoàn viên, hội viên trên địa bàn thị xã.

Công tác tổ chức cán bộ được Thị ủy thường xuyên coi trọng, coi đó là nhân tố quyết định để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Công tác xây dựng chi, Đảng bộ trong sạch, vững mạnh được gắn với việc củng cố cơ sở Đảng và chi bộ ở khu dân cư. Năm 2001, Thị ủy tổng kết công tác xây dựng chi, Đảng bộ trong sạch, vững mạnh 5 năm (1997-2001) và sơ kết Nghị quyết số 05 của Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Tổng kết 22 năm thực hiện Chỉ thị 83-CT/TW về phát thẻ đảng viên. Triển khai tốt Quy định số 76 của Bộ Chính trị và Thông tri số 13 của Tỉnh ủy về việc đảng viên về sinh hoạt tại nơi cư trú. Tổng kết các nghị quyết của Trung ương về công tác tổ chức cán bộ, đồng thời triển khai công tác đánh giá cán bộ, bổ sung, quy hoạch cán bộ theo Kế hoạch số 12 của Tỉnh ủy. Thực hiện công tác luân chuyển cán bộ, bổ nhiệm mới và bổ nhiệm lại một số cán bộ chủ chốt ở các phòng, ban của thị xã. Tổng kết 15 năm công tác bảo vệ chính trị nội bộ của thị xã nhìn chung đạt kết quả tốt. Thực hiện chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng trong tình hình mới của Trung ương và của tỉnh. Ngày 8/3/2001, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định số 13 thành lập Ban Dân vận Thị ủy. Ban Dân vận được thành lập đã nhanh chóng giúp Thị ủy xây dựng hệ thống khối dân vận ở cơ sở đi vào hoạt động đạt kết quả tốt. Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng từ 60,7% năm 2000 lên 76,5 % năm 2004. Công tác phát triển đảng viên mới trong 5 năm là 850, trong đó đảng viên nữ chiếm 46,6%. Bình quân mỗi năm kết nạp 170 đảng viên, tăng 30,7% so với mục tiêu Đại hội đề ra. Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng từ 57,5% năm 2000 lên 63,7% năm 2004, tăng 6,2%; đảng viên không đủ tư cách giảm từ 0,53% năm 2000 xuống còn 0,35% năm 2004.

Công tác kiểm tra của Đảng bộ được tăng cường đã góp phần ngăn chặn những vi phạm của tổ chức Đảng và đảng viên. Trong nhiệm kỳ UBKT từ thị đến cơ sở đã thực hiện tốt chương trình kiểm tra theo kế hoạch và chuyên đề. Nội dung kiểm tra đi sâu vào việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; kiểm tra tổ chức Đảng và đảng viên cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm Điều lệ Đảng. Qua kiểm tra đã kịp thời uốn nắm những sai sót, vi phạm, góp phần nâng cao sức chiến đấu và uy tín của Đảng. Trong nhiệm kỳ UBKT các cấp đã xử lý kỷ luật 01 tổ chức Đảng với hình thức khiển trách và xử lý 64 đảng viên (khiển trách 26, cảnh cáo 14, cách chức 4, khai trừ 20). Nội dung vi phạm của đảng viên chủ yếu là vi phạm quản lý đất đai, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống và vi phạm kế hoạch hóa gia đình.

Đánh giá tổng quát trong nhiệm kỳ 2000-2005, Đảng bộ và nhân dân thị xã với tinh thần năng động, chủ động sáng tạo, đã nắm vững lợi thế và thời cơ, tập trung cao vào nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là công tác xây dựng Đảng, nên đã thu hút được nhiều thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt cao. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng hướng, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế tăng mạnh. Thu ngân sách đạt cao, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường. Văn hóa xã hội có nhiều mặt tiến bộ. Quốc phòng được củng cố, an ninh chính trị ổn định, an toàn trật tự xã hội được giữ vững, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Bộ mặt đô thị có nhiều khởi sắc. Năm 2001, nhân dân và lực lượng vũ trang thị xã Vĩnh Yên được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 2004, thị xã Vĩnh Yên được công nhận là đô thị loại III và được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Hệ thống chính trị từ thị xã đến cơ sở được củng cố, tăng cường, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, lòng tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thị xã vẫn còn những tồn tại, hạn chế, yếu kém như kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao những chưa vững chắc, nội lực của các thành phần kinh tế còn thấp. Chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp còn chậm, chưa khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh về du lịch-dịch vụ của thị xã. Phát triển văn hóa-xã hội chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhất là việc quy hoạch, đầu tư xây dựng các công trình văn hóa-thể thao; tệ nạn xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Năng lực lãnh đạo, điều hành của một số cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở và sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng còn yếu.

2. Đại hội Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên lần thứ XVIII lãnh đạo nhân dân thực hiện nghị quyết đẩy mạnh CNH-HĐH theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2005-2010)

Thực hiện Chỉ thị số 46, ngày 6/12/2004 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 80-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về: “Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội X của Đảng”. Ngày 17/10/2005, Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2005-2010. Về dự Đại hội có 170 đại biểu ưu tú đại diện cho 4.000 đảng viên của 64 chi, Đảng bộ cơ sở trực thuộc thị xã.

Đại hội đã kiểm điểm kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVII nhiệm kỳ (2000-2005) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ thị xã nhiệm kỳ (2005-2010) và định hướng đến năm 2020.

Đại hội đã đề ra mục tiêu tổng quát nhiệm kỳ (2005-2010) là: “Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng ổn định bền vững, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khai thác có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đặc biệt là hạ tầng đô thị theo hướng phát triển đô thị văn minh, hiện đại. Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi sinh, môi trường, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo phát triển bền vững. Phát triển văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực. Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm. Không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ và các tổ chức Đảng, tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng đồng bộ về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Phấn đấu đến năm 2010, thị xã Vĩnh Yên trở thành thành phố trực thuộc tỉnh”.

Đại hội đã thông qua mục tiêu cụ thể trong nhiệm kỳ cần tập trung phấn đấu là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm (giá trị gia tăng) đạt trên 20%, trong đó công nghiệp xây dựng 26,11%; dịch vụ 17%; nông, lâm nghiệp, thủy sản 4,2%. Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ 50%, công nghiệp-xây dựng 47%, nông, lâm nghiệp, thủy sản 3%. Đến năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 1350 USD, gấp 1,7 lần so với năm 2005 (gấp 1,3 lần so với bình quân chung của tỉnh). Nhịp độ tăng bình quân thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn từ 28-30%, chi ngân sách từ 26-28%. Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 90%, làng, khu phố đạt chuẩn văn hóa đạt trên 80% (trong đó đạt tiêu chuẩn văn hóa cấp tỉnh 30%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1%/năm. Số lao động được giải quyết việc làm trên 2000 người/năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 40-45%. Cơ cấu lao động: Công nghiệp-xây dựng và dịch vụ trên 80%, nông-lâm nghiệp, thủy sản dưới 20%. Phấn đấu hộ nghèo giảm mỗi năm 1%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 15%. 100% số xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Năm 2007 kiên cố hóa 100% nhà lớp học bậc phổ thông, 50% bậc học mầm non. Đến năm 2010 đạt phổ cập THPT. Hàng năm kết nạp từ 170 đảng viên mới trở lên. Do tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh hàng năm đạt trên 80%. Định hướng đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2020 khoảng 15%/năm. Thu ngân sách bình quân đầu người đến năm 2020 đạt khoảng 3000 USD, gấp 1,5 lần so với bình quân chung của cả nước. Cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Dịch vụ 60-70%, công nghiệp-xây dựng từ 30-40%, nông-lâm nghiệp, thủy sản còn 1-2%; tỷ lệ lao động qua đào tạo 60-65%. Cơ cấu lao động: Công nghiệp-xây dựng-dịch vụ trên 90%, nông-lâm nghiệp, thủy sản dưới 10%.

Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm cao, Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên lần thứ XVIII đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ thị xã nhiệm kỳ (2005-2010) gồm 24 đồng chí. Bầu Ban Thường vụ gồm 8 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Văn Mạc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy được bầu làm Bí thư Thị ủy Vĩnh Yên; đồng chí Lại Hữu Lân, Tỉnh ủy viên được bầu làm Phó Bí thư-Chủ tịch UBND thị xã, đồng chí Trần Ngọc Oanh được bầu làm Phó Bí thư Thường trực, Chủ tịch HĐND thị xã. Hội nghị bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV nhiệm kỳ (2005-2010).

Thực hiện nghị quyết Đảng bộ thị xã lần thứ XVIII trong điều kiện Vĩnh Yên chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính thế giới và tình trạng suy giảm kinh tế trong nước, thiên tại, dịch bệnh diễn biến phức tạp. Song, thuận lợi cơ bản trong nhiệm kỳ là thị xã từ đô thị loại IV được Nhà nước công nhận là đô thị loại III vào năm 2004 và thành phố trực thuộc tỉnh vào năm 2006. Đây là đặc điểm nổi bật, đồng thời là thuận lợi bao trùm, ảnh hưởng, chi phối toàn diện tới các lĩnh vực chính trị, kinh tế-xã hội của thành phố. Từ đặc điểm này đã tạo nhiều cơ hội để Vĩnh Yên phát triển nhanh nhưng không tránh khỏi những khó khăn, phức tạp mới tác động, nhất là các vấn đề xã hội nảy sinh.

Phát huy những nhân tố thuận lợi, tập trung tháo gỡ khó khăn, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, sự giúp đỡ của các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên đã thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVIII đề ra.

Kinh tế của thành phố phát triển tương đối toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Hầu hết các mục tiêu kinh tế đều đạt và vượt mục tiêu Đại hội XVIII đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 21,89%, tăng 1,89% so với mục tiêu Đại hội đề ra. Cơ cấu kinh tế hàng năm thay đổi theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế của đô thị trung tâm tỉnh lỵ. Đến năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng chiếm 52,42%, thương mại-dịch vụ chiếm 45,11%, nông-lâm nghiệp, thủy sản chiếm 2,47% (cơ cấu kinh tế do Đại hội XVIII đề ra là: công nghiệp-xây dựng 47%, thương mại-dịch vụ 50%, nông-lâm nghiệp, thủy sản chiếm 3%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là 52,46 triệu đồng, tương đương 2.914 USD (tăng 2,15 lần so với mục tiêu Đại hội đề ra).

Về sản xuất công nghiệp-xây dựng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 20,84% (mục tiêu Đại hội 26,1%). Công nghiệp quốc doanh tăng bình quân 25,52%, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 24,7%, công nghiệp quốc doanh giảm bình quân 39,19%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng 7,07%/năm. Cơ cấu các thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp có sự chuyển dịch lớn: Công nghiệp quốc doanh phần lớn chuyển sang cổ phần hóa nên chỉ chiếm tỷ trọng 0,13% (năm 2005 chiếm 4,76%), công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 45,18% (năm 2005 chiếm 42,38%), công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 54,67% (năm 2005 chiếm 52,85%). Thành phố có nhiều chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, tháo gỡ khó khăn, làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện khu công nghiệp Khai Quang với diện tích 248,65 ha (giảm 26,35 ha so với năm 2005 do điều chỉnh quy hoạch của tỉnh). Khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư vào các cụm điểm phát triển kinh tế-xã hội ở Đồng Tâm, Tích Sơn, Hội Hợp, Định Trung. Đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế của thành phố. Tính đến năm 2010 trên địa bàn thành phố đã thu hút được 53 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đầu tư là 307 triệu USD; 108 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký là 5.556 tỷ đồng, nâng số doanh nghiệp công nghiệp-xây dựng trên địa bàn là 1.101 cơ sở, tăng 242 cơ sở so với năm 2005, thu hút 22.000 lao động. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu được sản xuất trên địa bàn thành phố là các linh kiện ô tô, xe máy, điện tử và các sản phẩm gia công may mặc, dệt len…

Công tác quản lý Nhà nước về công nghiệp trên địa bàn thành phố được tăng cường và ngày càng cụ thể vai trò quan trọng để công nghiệp phát triển.

Bên cạnh những kết quả đạt được trên lĩnh vực phát triển công nghiệp-xây dựng của thành phố cũng còn khó khăn như giá cả vật tư nguyên liệu chiến lược như sắt thép, xăng dầu, xi măng, gạch ngói và các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu cho đời sống nhân dân tăng nhanh, ảnh hưởng đến sức mua và hiệu quả sản xuất. Năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh chưa cao. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu. Vấn đề ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để. Đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề cao còn thiếu. Trình độ, năng lực của một số doanh nghiệp còn hạn chế…

Hoạt động thương mại-dịch vụ phát triển nhanh và ổn định, phục vụ yêu cầu các ngành sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 24,61%, tăng 7,61% so với mục tiêu Đại hội đề ra. Đến năm 2010, trên địa bàn thành phố có 5.332 cơ sở kinh doanh, tăng 1.178 cơ sở so với năm 2005; số hộ có vốn kinh doanh hàng tỷ đồng ngày càng tăng. Nhiều doanh nhân đầu tư hàng tỷ đồng cho phát triển thương mại, dịch vụ chất lượng cao như: Khách sạn, nhà hàng, siêu thị… Các dịch vụ có sự quản lý của Nhà nước ngày càng được đầu tư và mở rộng. Các dịch vụ xã hội phát triển nhanh như: Dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ tư vấn… đáp ứng xu thế phát triển ngày càng tăng của đô thị. Trong những năm qua, thành phố tập trung quy hoạch, cải tạo, nâng cấp xây dựng các chợ chính trên địa bàn như chợ trung tâm, chợ Đồng Tâm… theo hướng văn minh, hiện đại, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngày càng tăng trên địa bàn thành phố. Văn minh trong giao tiếp, ứng xử trong thương mại ngày càng được đề cao.

Hoạt động du lịch và các ngành dịch vụ đã góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, đóp góp một phần quan trọng vào ngân sách của Nhà nước và thu hút đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, giải quyết công ăn, việc làm ngày càng nhiều cho người lao động và nâng cao nhận thức gắn văn hóa với phát triển du lịch. Khách du lịch hàng năm tăng 12%, vượt mục tiêu Đại hội đề ra (mục tiêu Đại hội 8%).

Lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn thành phố mặc dù tăng trưởng đạt mục tiêu đề ra nhưng so với tiềm năng của thành phố chưa tương xứng, cơ cấu dịch vụ du lịch còn thấp. Việc quản lý, sắp xếp, quy hoạch ngân hàng kinh doanh tại các chợ thực hiện còn chậm. Các hoạt động dịch vụ phục vụ ở các khu công nghiệp phát triển chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển. Phát triển ngành du lịch còn chậm, chưa khai thác tốt tiềm năng du lịch của thành phố do chưa có giải pháp đầu tư lớn để tạo ra sự phát triển nhanh về du lịch. Chưa có sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng cao, chưa khai thác hết tiềm năng du lịch của địa phương. Công tác quảng bá và tuyên truyền du lịch còn hạn chế.

Về nông-lâm nghiệp, thủy sản trong nhiệm kỳ 2005-2010, Đảng bộ tập trung chỉ đạo thành phố triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU “Về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-210, định hướng đến năm 2020”, bằng các chương trình, đề án cụ thể. Kết quả là thành phố đã tập trung đầu tư thực hiện các chương trình kiên cố hóa kênh mương, triển khai thực hiện các đề án, dự án ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy nhanh công tác khuyến nông, mở các lớp tập huấn kiến thức cho nông dân. Với sự quan tâm của trên, mặc dù những năm qua sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn như thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng sản xuất nông nghiệp thành phố vẫn duy trì được tốc độ phát triển, tăng bình quân hàng năm là 4,41%, tăng 0,21% so với mục tiêu Đại hội đề ra. Trong đó, ngành trồng trọt tăng bình quân hàng năm là 1,9%, ngành chăn nuôi tăng bình quân hàng năm là 9,35%, thủy sản tăng bình quân 2,69%/năm. Giá trị sản xuất trên một ha canh tác tăng từ 32,2 triệu đồng năm 2005, tăng lên 41,94 triệu đồng năm 2010 (tăng 1,94 triệu đồng so với mục tiêu Đại hội). Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực. Diện tích cây hàng hóa, năng suất cây trồng cao hơn, giá trị trên 1 ha canh tác hiệu quả hơn. Giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng giá trị chăn nuôi, thủy sản và ngành nghề. Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn ngày càng được đầu tư xây dựng. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Đảng bộ thành phố tích cực chỉ đạo việc thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, trọng tâm là 2 xã Định Trung và Thanh Trù. Đến năm 2010, xã Định Trung đã hoàn thành 12/19 tiêu chí nông thôn mới, xã Thanh Trù đạt 7/19 tiêu chí.

Tình hình kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố sau 5 năm thực hiện nghị quyết Trung ương V (khóa IX) “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” và sau 10 năm triển khai thực hiện luật hợp tác xã, phong trào hợp tác xã ở thành phố Vĩnh Yên tiếp tục được củng cố và chuyển biến tích cực, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. Xu thế hợp tác xã phát triển mạnh trong lĩnh vực dịch vụ tiểu thủ công nghiệp và tín dụng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã có nhiều chuyển biến tích cực đi dần vào ổn định, đã giải quyết việc làm cho hàng nghìn xã viên và người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn thành phố.

Do có sự phát triển đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, hàng năm thu, chi ngân sách của thành phố đều tăng và vượt chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh và HĐND thành phố giao. Tổng thu ngân sách trên địa bàn từ 110 tỷ đồng năm 2005 tăng lên 909 tỷ đồng năm 2010. Nhịp độ tăng bình quân hàng năm đạt 52,5% (mục tiêu Đại hội đề ra tăng bình quân từ 28-30%). Do nguồn thu tăng nên thành phố đã đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của địa phương, từng bước giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. Tổng chi ngân sách tăng từ 63,9 tỷ đồng năm 2005 lên 353,2 tỷ đồng năm 2010. Nhịp độ tăng bình quân hàng năm đạt 40,7% (mục tiêu Đại hội đề ra tăng bình quân từ 26-28%).

Công tác quy hoạch, xây dựng, phát triển và quản lý đô thị có nhiều chuyển biến tích cực. Thành phố tập trung xây dựng, hoàn thiện quy hoạch đô thị trên cơ sở quy hoạch tổng thể để xây dựng quy hoạch chi tiết, phát huy đồng bộ và từng bước hiện đại hóa kết cấu hạ tầng đô thị, xây dựng đường vành đai, phát triển hệ thống cấp, thoát nước, mạng lưới điện, bưu chính viễn thông và phát thanh truyền hình, thu hút các doanh nghiệp, tạo điều kiện để đẩy mạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Yên.

Trong nhiệm kỳ thành phố tập trung đẩy mạnh công tác xây dựng cơ bản, quản lý đô thị, vệ sinh môi trường đã đạt những kết quả tích cực. Hệ thống giao thông nội thị, giao thông đối ngoại của thành phố không ngừng được cải tạo và mở rộng. Hệ thống điện chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, thông tin liên lạc được đầu tư đồng bộ. Các công trình giáo dục, y tế, nhà văn hóa, các công trình công cộng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân. Đến năm 2010, 100% các trạm y tế, các trường phổ thông được xây dựng kiên cố, 70% khu dân cư xây dựng được nhà văn hóa. Các công trình công cộng như: Công viên văn hóa thể thao, vườn hoa đài phun nước, đường dạo, cây xanh, trang trí đô thị ngày càng khang trang hơn. Một số dự án lớn có vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng được triển khai như khu đô thị Nam Vĩnh Yên, khu du lịch sinh thái Bắc Đầm Vạc, khu đô thị chùa Hà. Đường vành đai, khu chung cư VINACONEX, các khu dân cư xen ghép… đã góp phần cải thiện chất lượng đô thị Vĩnh Yên theo hướng văn minh, hiện đại. Công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị được nâng lên. Công tác quản lý Nhà nước về quản lý đô thị không ngừng được nâng cao. Với những kết quả đạt được, ngày 01/12/2006 Vĩnh Yên được Chính phủ công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh.

Công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ và sử dụng tài nguyên được tăng cường. Đến năm 2010, thành phố quy hoạch được 15 km đất dịch vụ với tổng diện tích đất là 65,67 ha, giao đất dịch vụ cho 400 trường hợp; giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhân dân. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về đất đai trên địa bàn được tăng cường.

Công tác quản lý giám sát, bảo vệ môi trường ở khu vực đô thị, khu vực nông thôn, các cơ sở sản xuất… được quan tâm, góp phần hạn chế các tác động xấu về môi trường. Thành phố đã xây dựng và triển khai đề án bảo vệ môi trường thành phố giai đoạn 2007-2010, tầm nhìn 2020 với 45 chương trình, dự án để triển khai theo từng giai đoạn cụ thể; đồng thời xây dựng chương trình “Mô hình hóa xã hội thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt”, trên cơ sở đó thành lập và đưa vào hoạt động 43 tổ vệ sinh môi trường tự quản tại các xã, phường.

Cùng với phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục-đào tạo có bước phát triển toàn diện cả về quy mô, loại hình, số lượng trường lớp, chất lượng dạy và học. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho dạy và học được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Kết quả là chất lượng giáo dục, đào tạo hàng năm được nâng lên. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi, học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp thành phố, cấp tỉnh và cấp quốc gia năm sau cao hơn năm trước. Học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng đạt 54,4%. Công tác xã hội hóa giáo dục, đào tạo đã thu hút mỗi năm hàng nghìn học sinh học nghề, bồi dưỡng kiến thức nâng cao trình độ. Hoạt động của một số trung tâm học tập cộng đồng, hội khuyến học… ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn. Trình độ dân trí được nâng lên, lao động qua đào tạo chiếm 49% (mục tiêu Đại hội từ 40-45%). Thành phố tập trung chỉ đạo triển khai các đề án về phát triển giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên thường xuyên được kiện toàn, bồi dưỡng nâng cao trình độ. Đến năm 2010, thành phố có 1046 cán bộ, giáo viên đạt chuẩn, chiếm 98,33%, đạt trên chuẩn 58,9%. Nhiệm vụ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia cũng được thành phố quan tâm. Đến năm 2010, thành phố có 22/40 trường tiểu học, THCS và THPT đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 1 trường THPT được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao độngthời kỳ đổi mới. Đến năm 2010 chất lượng giáo dục thành phố được đánh giá là đứng thứ 3 toàn tỉnh.

Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ được lãnh đạo thành phố quan tâm. Thành phố đã thành lập được Hội đồng khoa học phối hợp với các ngành ở tỉnh triển khai nghiên cứu nhiều đề tài khoa học và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản lý điều hành, khám chữa bệnh, nghiên cứu giảng dạy trong các nhà trường.

Các hoạt động văn hóa thông tin được phát triển đa dạng, phong phú, sâu rộng, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của dân nhân. Các cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đã thu hút nhiều gia đình, cơ quan, đơn vị đăng ký tham gia thực hiện. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, kỷ niệm ngày truyền thống theo tinh thần Chỉ thị số 03-CT/TW và Chỉ thị số 27-CT/TU ngày càng đi vào chiều sâu. Năm 2010 toàn thành phố có 90 làng, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa, tăng 69 làng so với năm 2001. Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa là 90%. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa và dịch vụ văn hóa được tăng cường, các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội được ngăn chặn và xử lý. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Việc xây dựng các thiết chế văn hóa, điểm vui chơi, giải trí ở xã, phường và các khu dân cư được thành phố quan tâm đầu tư. Đến năm 2010, thành phố xây dựng được 120 nhà văn hóa ở khu dân cư, chiếm 80%.

Công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em được lãnh đạo thành phố đặc biệt quan tâm. Hệ thống y tế trên địa bàn thành phố được phát triển sâu rộng, được đầu tư ngày càng đồng bộ về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ y tế đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân. Công tác xã hội hóa y tế được mở rộng, nhất là các cơ sở y tế tư nhân phát triển nhanh. Hàng năm thành phố đều hoàn thành các chương trình, kế hoạch y tế đề ra. Công tác phòng bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai đồng bộ, nghiêm túc. Trong nhiều năm trên địa bàn thành phố không để xẩy ra các dịch bệnh lớn. Tính đến năm 2010, thành phố có 7/9 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt 77,7% (mục tiêu Đại hội đề ra là 100%); đạt tỷ lệ 10 bác sỹ/1 vạn dân, tăng 5 bác sỹ so với năm 2005. Công tác dân số gia đình và trẻ em được triển khai thực hiện tốt. Các hoạt động chăm sóc và bảo vệ các quyền về bà mẹ trẻ em được quan tâm hơn. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đến năm 2010 còn 14,8%, giảm 3,7% so với năm 2005, đạt mục tiêu Đại hội đề ra.

Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo, trong nhiệm kỳ qua lĩnh vực quốc phòng của thành phố được củng cố, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo môi trường thuận lợi để kinh tế-xã hội tiếp tục phát triển.

Thành tích nổi bật của công tác quân sự, quốc phòng ở thành phố là thực hiện tốt luật nghĩa vụ quân sự, pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên, pháp lệnh dân quân tự vệ. Đây là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định về chính trị ở địa phương. Hàng năm, công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ đảm bảo 100% chỉ tiêu trên giao, đảm bảo dân chủ, công bằng, công khai, đúng luật định. Công tác xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đảm bảo số lượng và chất lượng. Các chế độ chính sách đãi ngộ đối với quân dân, lực lượng dự bị động viên, cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ được thực hiện đầy đủ theo quy định của luật và pháp lệnh nhà nước. Đặc biệt là lãnh đạo thành phố tổ chức thành công cuộc diễn tập khu vực phòng thủ thành phố năm 2009 làm điểm cho toàn quân, toàn quốc, được Bộ quốc phòng, Quân khu 2 và tỉnh đánh giá xuất sắc. Chất lượng lực lượng vũ trang thành phố được nâng lên cả về chính trị, tư tưởng và khả năng tác chiến phòng thủ, có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.

Lực lượng công an làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, chủ động phối hợp với các ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh công tác bảo vệ chính trị nội bộ, an ninh văn hóa – tư tưởng và trật tự trên địa bàn. Tỉ lệ phá án hàng năm đạt trên 80 %. Trật tự an toàn giao thông trên địa bàn được giữ vững, không để xảy ra những vấn đề đột xuất, bất ngờ. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc xuất hiện nhiều mô hình tiêu biểu ngày càng được nhân rộng.

Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân đảm bảo đúng thẩm quyền, không để kéo dài. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật được tăng cường, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết về pháp luật cho cán bộ và nhân dân. Công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, góp phần tăng cường pháp chế, tăng cường công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần tích cực vào việc duy trì trật tự, kỉ cương trên địa bàn thành phố.

Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố, Đảng bộ thành phố còn tập trung xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong tình hình mới. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định, từng bước đổi mới về nội dung, hình thức hoạt động như mở rộng dân chủ các kì họp, nội dung các kì họp tập trung bàn và quyết định những nội dung phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng và các vấn đề liên quan đến chính sách của địa phương. Thực hiện tốt chức năng quyết định, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, chính sách pháp luật của nhà nước. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của cử tri ngày càng được mở rộng theo hướng dân chủ, thiết thực, hiệu quả. Trong nhiệm kì Hội đồng nhân dân còn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trên địa bàn thành phố.

Ủy ban nhân dân các cấp làm tốt chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn, cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy thành các đề án, dự án, chương trình, kế hoạch và tổ chức triển khai có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Thực hiện tốt pháp lệnh quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh. Trong nhiệm kì có 15 lượt xã, phường được UBND tỉnh công nhận là chính quyền trong sạch, vững mạnh. Thực hiện chỉ đạo của trên, trong nhiệm kì thành phố thực hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân ở 7/7 phường; thí điểm mô hình Bí thư kiêm Chủ tịch hội đồng nhân dân phường tại 2 phường bước đầu có hiệu quả.

Hoạt động của chính quyền trong nhiệm kỳ tập trung vào các nhiệm vụ lớn, quan trọng như: Phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, đặc biệt là xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quản lý sử dụng đất đai, thu, chi ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Quá trình chỉ đạo đã bám sát các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy, nghị quyết của HĐND. Đồng thời, UBND có nhiều giải pháp tích cực, kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh, tạo môi trường thuận lợi để thành phố phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống nhân dân, thu hút các nguồn lực đầu tư.

Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền ngày càng hiệu lực, hiệu quả, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực. Bước đầu giảm thiểu những khó khăn, phiền hà cho người dân và các doanh nghiệp. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của cán bộ và nhân dân. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Trong nhiệm kỳ 2005-2010, HĐND và UBND thành phố đã ban hành 26 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 8 nghị quyết, 14 quyết định và 4 chỉ thị. Qua đó đã giúp cho cán bộ, đặc biệt là cán bộ cơ sở nắm vững quy trình ban hành văn bản và các quy định của pháp luật có liên quan, nâng cao chất lượng ban hành văn bản.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới, hướng về cơ sở sát với địa bàn dân cư. Tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc biệt là tuyên truyền triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Mặt trận Tổ quốc thường xuyên được củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước như: “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xây dựng nhà đại đoàn kết”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”… Thực hiện pháp lệnh quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND.

Công đoàn các cấp tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục công nhân viên chức, lao động nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tập hợp lực lượng công nhân lao động tham gia các tổ chức công đoàn trong các loại hình doanh nghiệp. Chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động. Quan tâm đến công tác phát triển đảng viên trong cán bộ công nhân viên chức lao động.

Đoàn thanh niên tập trung quan tâm đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ, phát huy vai trò xung kích, gương mẫu, tình nguyện, sáng tạo trong các phong trào phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động nổi bật trong nhiệm kỳ của đoàn viên, thanh niên thị xã là phong trào hiến máu nhân đạo đã lôi cuốn đông đảo lực lượng đoàn viên, thanh niên trên địa bàn thành phố tham gia.

Hội phụ nữ thành phố tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo-xây dựng gia đình hạnh phúc” do Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam phát động. Thực hiện có hiệu quả 6 nhiệm vụ công tác trọng tâm của Hội. Quan tâm công tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, thu hút ngày càng nhiều hội viên tham gia sinh hoạt Hội. Xây dựng nếp sống văn minh đô thị, xây dựng gia đình “5 không, 3 sạch”. Phối hợp với các đoàn thể, Hội phụ nữ đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương trong nhiệm kỳ 2005-2010.

Hội Nông dân tích cực vận động hội viên thi đua đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vận động tuyên truyền hội viên giúp đỡ nhau giải quyết việc làm, giảm nhanh hộ nghèo, tăng hộ khá, giàu; xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố. Thực hiện tốt các phong trào do Trung ương Hội phát động, tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền, góp phần ổn định tình hình an ninh nông thôn, phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn.

Hội Cựu chiến binh các cấp tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua do Trung ương Hội phát động, tiêu biểu là triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Trung ương phát động. Tích cực tuyên truyền vận động hội viên phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo trong hội viên, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Hội Cựu chiến binh thành phố luôn được lãnh đạo đánh giá là chỗ dựa đáng tin cậy của Đảng, chính quyền ở địa phương.

Hoạt động của Hội Người cao tuổi và các tổ chức xã hội nghề nghiệp có nhiều đổi mới về phương thức tổ chức và hoạt động, thu hút ngày càng nhiều hội viên tham gia. Hoạt động của Hội và các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong những năm qua là tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương.

Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng thường xuyên được Đảng bộ quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và đảng viên.

Trong nhiệm kỳ, Đảng bộ đã quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh. Đặc biệt là tập trung cụ thể hóa 6 giải pháp đã được Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII đề ra bằng các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, đề án, xây dựng các cơ chế chính sách cụ thể để thực hiện.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được Đảng bộ thường xuyên chú trọng. Trước hết là việc tổ chức, triển khai quán triệt các nghị quyết của Đảng theo phương thức ngày càng đổi mới, nâng cao chất lượng từ việc quán triệt, học tập nghị quyết đến xây dựng các chương trình hành động theo theo hướng hiệu quả, thiết thực. Đồng thời chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết. Làm tốt công tác nắm bắt, dự báo và giải quyết kịp thời những vướng mắc về tư tưởng, dư luận trên địa bàn. Công tác giáo dục lý luận chính trị tiếp tục được Đảng bộ quan tâm chú trọng. Trong nhiệm kỳ thành phố đã tổ chức nâng cao nhận thức về lý luận, nâng cao bản lĩnh chính trị, sửa đổi tác phong, lối sống, nâng cao năng lực và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.

Hoạt động nổi bật của Đảng bộ trong nhiệm kỳ là tập trung chỉ đạo có hiệu quả Chỉ thị 06-CT/TW ngày 01/11/2006 của Bộ Chính trị về Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với việc thực hiện nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với công tác phòng, chống tham nhũng. Kết quả nổi bật của Cuộc vận động này là tạo được sự chuyển biến tích cực về mặt nhận thức trong cán bộ đảng viên và nhân dân. Cuộc vận động thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng có sức lan tỏa lớn lôi cuốn nhiều tầng lớp trong xã hội quan tâm, kỳ vọng và đã có tác dụng nhất định đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ đảng viên, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, tạo sự đồng thuận và niềm tin giữa nhân dân với Đảng trên địa bàn thành phố, góp phần tích cực vào việc ổn định tình hình chính trị của địa phương. Công tác tổ chức tập trung vào việc xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ. Trong nhiệm kì tỉ lệ chi, Đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh tăng từ 83,7 % năm 2005 lên 85,6 % năm 2009 (bình quân 5 năm đạt 84,9%), Đảng bộ không còn chi, Đảng bộ yếu kém. Tỷ lệ đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng từ 84 % năm 2005 lên 92,5 % năm 2009; đảng viên vi phạm tư cách giảm từ 0,5 % năm 2005 xuống còn 0,3 % năm 2009.

Công tác cán bộ tiếp tục có nhiều đổi mới trong việc quy hoạch, quản lí, đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lí cán bộ. Thường xuyên làm tốt công tác đánh giá, luân chuyển cán bộ theo đúng tinh thần chỉ đạo của trên.

Trong nhiệm kỳ Đảng bộ đã cử 167 lượt cán bộ đi học Đại học chuyên môn và lý luận chính trị. Đội ngũ cán bộ thành phố từng bước được chuyển hóa, trẻ hóa, phẩm chất và năng lực không ngừng được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới.

Công tác phát triển đảng viên mới trong nhiệm kỳ được Đảng bộ quan tâm chú trọng. Trong nhiệm kỳ toàn Đảng bộ kết nạp được 877 đoàn viên mới, trong đó đảng viên trẻ chiếm 61,5 %, đảng viên là nữ chiếm 45,4 %. Bình quân mỗi năm Đảng bộ kết nạp được 174 đảng viên mới, đạt mục tiêu Đại hội đề ra. Phương thức lãnh đạo của Đảng bộ đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới. Chế độ sinh hoạt của các tổ chức Đảng được thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định của Điều lệ Đảng. Nội dung, hình thức, chất lượng sinh hoạt được không ngừng đổi mới theo hướng ngày càng chất lượng, hiệu quả. Trong nhiệm kỳ Đảng bộ làm tốt công tác phát thẻ đảng viên, tặng huy hiệu Đảng viên từ 30 năm tuổi Đảng trở lên, khen thưởng kịp thời đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng có thành tích xuất sắc.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện tốt, đã góp phần quan trọng làm trong sạch tổ chức và đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng của tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên.

Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng bộ được duy trì thực hiện nghiêm túc, theo đúng quy định của Điều lệ Đảng. UBKT các cấp đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra trong nhiệm kì và hàng năm theo đúng quy định của Điều lệ Đảng. Trong nhiệm kì (2005 – 2010) UBKT Thành ủy đã tổ chức được 44 cuộc kiểm tra, 5 cuộc giám sát. Các cuộc kiểm tra, giám sát được thực hiện theo đúng quy trình, quy định. Qua kiểm tra UBKT các cấp đã xử lý kỷ luật 35 đảng viên, hình thức kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ ra khỏi Đảng. Nội dung của các vi phạm chủ yếu là: Vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, quản lý tài chính, quản lý đất đai. Việc xem xét thi hành kỉ luật Đảng đảm bảo công minh, chính xác, kịp thời, góp phần giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng nghiêm minh, giáo dục cán bộ Đảng viên thực hiện tốt chức năng, quyền hạn, nguyên tắc, Điều lệ Đảng quy định.

Công tác dân vận ngày càng đổi mới phương thức hoạt động có hiệu quả theo hướng gắn dân, sát dân, hướng về cơ sở. Hoạt động của công tác dân vận Thành ủy trong nhiệm kì tập trung vào công tác dân vận chính quyền, công tác dân vận trong lực lượng vũ trang nhằm làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ đảng viên và nhân dân “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Động viên và cổ vũ nhân dân xây dựng, củng cố khối đoàn kết, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh lao động sản xuất. Trong nhiệm kỳ Ban Dân vận Thành ủy đã ban hành và triển khai thực hiện quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở, kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ và kiện toàn hệ thống dân vận từ thành phố đến cơ sở theo tinh thần Nghị quyết 05 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tính đến năm 2010, thành phố đã thành lập được 120 tổ dân vận và bước đầu hoạt động có hiệu quả, thiết thực như tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.

Có được những kết quả toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế-xã hội của thành phố trong nhiệm kỳ, trước hết là do Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn; Tỉnh ủy, HĐND, UBND, các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh thường xuyên chỉ đạo, động viên, giúp đỡ. Tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi để thành phố thu hút đầu tư. Đồng thời, tỉnh còn ưu tiên cho Vĩnh Yên phát triển một số lĩnh vực, nhất là cơ sở hạ tầng, các điểm, cụm công nghiệp và các khu đô thị mới. Tạo môi trường để Vĩnh Yên thu hút các nguồn lực đầu tư.

Đảng bộ đã xây dựng được khối đoàn kết thống nhất, phát huy được trí tuệ tập thể để đề ra được những nhiệm vụ, giải pháp đúng đắn, phù hợp với điều kiện phát triển của thành phố. Chú trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên. Phát huy sức mạnh của các hệ thống chính trị tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương được Đảng bộ đề ra.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong nhiệm kỳ 2005-2010, Đảng bộ thành phố vẫn còn những hạn chế, tồn tại:

Kinh tế tuy có tốc độ tăng trưởng cao nhưng chưa đồng bộ, sức cạnh tranh thấp, một số lĩnh vực kinh tế kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, các ngành có lợi thế chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng nhìn chung còn chậm, các ngành sản xuất vật chất vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với dịch vụ. Công tác quy hoạch chậm và chưa đồng bộ. Kết cấu hạ tầng còn bất cập. Công tác quản lý Nhà nước về đất đai, quản lý đô thị, xây dựng cơ bản còn nhiều hạn chế.

Văn hóa-xã hội một số mặt còn hạn chế. Phát triển giáo dục chưa tương xứng với vị trí trung tâm tỉnh lỵ. Việc quan tâm đầu tư phát triển y tế ở một số xã, phường còn hạn chế. Đến năm 2010, thành phố vẫn còn 2/9 trạm y tế xã, phường chưa hoàn thành nghị quyết Đại hội đề ra. Công tác quản lý Nhà nước trong một số lĩnh vực y tế như: An toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa thông tin, thể thao một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn đầu tư cho phát triển văn hóa-xã hội chưa tương xứng với đầu tư cho kinh tế. Chất lượng cuộc sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, chênh lệch về cuộc sống giữa các tầng lớp dân cư có xu hướng ngày càng tăng.

An toàn trật tự còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có mặt còn hạn chế. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ. Nội dung, phương thức lãnh đạo chậm đổi mới.

Nguyên nhân của những tồn tại trên là một số cơ chế chính sách của cấp trên ban hành còn chậm, thiếu đồng bộ, ổn định và thống nhất. Tốc độ đô thị hóa quá nhanh trong khi khả năng đáp ứng vốn từ ngân sách còn hạn chế. Thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến kết quả thực hiện một số chỉ tiêu Đại hội đề ra.

Năng lực, trách nhiệm của một số cấp ủy Đảng, chính quyền trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa cao. Chưa năng động, chủ động, tích cực, sáng tạo trong tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của Đại hội. Trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của một số bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao, nhất là ở cơ sở. Nhận thức và việc chấp hành chính sách pháp luật Nhà nước trong một bộ phận nhân dân còn hạn chế.

3. Đại hội Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên lần thứ XIX lãnh đạo nhân dân tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2010-2014)

Thực hiện Chỉ thị số 37 ngày 4/8/2009 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Kế hoạch số 74 ngày 18/11/2009 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về Đại hội Đảng bộ các cấp. Ngày 28/7/2010, Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XIX nhiệm kỳ 2010-2015. Về dự Đại hội có 259 đại biểu đại diện cho 4.439 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Với tinh thần tích cực, khẩn trương, nghiêm túc, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, trí tuệ và ý thức trách nhiệm cao, Đại hội Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên lần thứ XIX nhiệm kỳ 2010-2015 đã kiếm điểm việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2005-2010 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ nhiệm kỳ 2010-2015.

Về mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2010-2015 được Đại hội xác định là: “Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và đảm bảo chất lượng, bền vững, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh về chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Khai thác có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội. Đặc biệt là hạ tầng đô thị theo hướng phát triển đô thị văn minh, hiện đại. Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo vệ sinh, môi trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững. Phát triển văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm. Không ngừng cải thiện an sinh xã hội và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tăng cường quốc phòng và giữ vững ổn định về chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi thu hút các nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng”.

Đại hội cũng đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2015, Đảng bộ phấn đấu tăng trưởng kinh tế hình quân hàng năm đạt 17,2%; trong đó: Dịch vụ 22,3%, công nghiệp-xây dựng 12,8%, nông-lâm nghiệp, thủy sản 4,2%. Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ 53,9%, công nghiệp-xây dựng 44,9%, nông-lâm nghiệp, thủy sản 1,2%. Thu nhập bình quân đầu  người 4350 USD, gấp 1,49 lần so với năm 2010. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ 18-20%. Hàng năm giải quyết việc làm mới cho 1200 lao động. Lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt 60%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiện 1%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2%. 100% trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia. Trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn dưới 10%. Tỷ lệ gia đình văn hóa 95%. Làng, khu phố đạt chuẩn văn hóa 85%. Tỷ lệ cơ quan đạt văn hóa 100%. Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia: Mầm non 76%, tiểu học 63%, THCS 88%, THPT 80%. Hoàn thành phổ cập giáo dục THPT vào năm 2015. Tỷ lệ hộ dân được dùng nước sạch đạt trên 95%. Tỷ lệ thu gom rác thải rắn đạt 85% và được xử lý 100% bằng phương pháp chôn lấp. Thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt đạt 100%. Tỷ lệ chính quyền cơ sở đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh bình quân hàng năm đạt trên 75%. Số đảng viên được kết nạp hàng năm là 150 đảng viên. Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt trên 90%. Tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh bình quân hàng năm đạt 85%. Định hướng đến năm 2020 tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2020 đạt 13,1%. Giá trị tăng bình quân đầu người đạt từ 7000-7500 USD, gấp 2,3 lần so với bình quân chung nhà nước. Cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Dịch vụ 55,8%, công nghiệp-xây dựng 43,4%, nông-lâm nghiệp, thủy sản 0,8%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 75-80%. Cơ cấu lao động công nghiệp-xây dựng 39%, dịch vụ 47%, nông-lâm nghiệp, thủy sản 14%. Thu gom chất thải rắn đạt từ 90-95%, trong đó được xử lý 85% qua đốt và tái chế, 15% xử lý chôn lấp. Tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch là 100%.

Đại hội đã sáng suốt lựa chọn bầu 45 đồng chí có đủ phẩm chất và năng lực vào Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XIX, nhiệm kỳ 2010-2015. Đồng chí Nguyễn Ngọc Quyền được bầu làm Bí thư. Đồng chí Nguyễn Ngọc Quyền sau đó do vi phạm pháp luật nên Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã điều động đồng chí Nguyễn Văn Chúc – UV BTV – Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy về giữ chức vụ Bí thư Thành ủy từ ngày 01/04/2011. Đại hội đã bầu đoàn đại biểu thay mặt cho hơn 4000 đảng viên trong toàn Đảng bộ đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV.

Bước vào thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2010-2015 trong điều kiện có nhiều thuận lợi như Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để thành phố tiếp tục phát triển. Kinh tế-xã hội của thành phố tiếp tục giữ vững nhịp độ phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Bên cạnh những thuận lợi, thành phố cũng còn nhiều khó khăn, thách thức như: Tình hình suy thoái kinh tế tài chính thế giới và khu vực phục hồi chậm, giá cả, lạm phát vẫn còn tăng cao tác động làm suy giảm kinh tế chung của cả nước; thị trường bị thu hẹp, nhất là thị trường bất động sản, đầu tư càng giảm mạnh. Trên địa bàn thành phố hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giảm, hàng tồn kho lớn, lãi suất ngân hàng cao, nguy cơ nợ xấu tăng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh khó tiếp cận nguồn vốn, nhiều doanh nghiệp đình trệ sản xuất, công nhân mất việc làm. Giá cả một số mặt hàng thiết yếu tăng cao. Đặc biệt là vụ án Dự án phường Đồng Tâm đã tác động lớn đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố. Hiện tượng đơn thư khiếu nại về đất đai có chiều hướng gia tăng. Tư tưởng của quần chúng nhân dân diễn biến phức tạp.

Trước tình hình trên, cấp ủy thành phố đã xác định tập trung chỉ đạo để ổn định tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố giữ vững nhịp độ phát triển kinh tế-xã hội. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, Đảng bộ thành phố đã phát huy truyền thống đoàn kết, tranh thủ thời cơ thuận lợi, lợi thế về tiềm năng của địa phương và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tế địa phương, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra nhiều giải pháp tích cực, tháo gỡ khó khăn, đã tạo ra sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Sau 3 năm triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX nhiệm kỳ (2010-2015), kinh tế-xã hội thành phố tiếp tục giữ được nhịp độ phát triển; an ninh-quốc phòng được củng cố tăng cường; hệ thống chính trị được ổn định, hoạt động đồng bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.

Công tác lãnh đạo của cấp ủy đã bám sát nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX, chương trình công tác toàn khóa để lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động của HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể và các cấp ủy, chính quyền cơ sở, đề ra nhiệm vụ chính trị sát, đúng với tình hình thực tế để đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của thành phố.

Từ năm 2011-2013, Đảng bộ thành phố đã ban hành nhiều văn bản tập trung vào nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị. Về phát triển kinh tế thành phố đã ban hành 07 nghị quyết, 08 thông tri, 03 chỉ thị, 07 chương trình, 23 kế hoạch, 29 kết luận, 203 thông báo kết luận, 292 quyết định của cấp ủy. Về văn hóa-xã hội, ban hành 01 nghị quyết, 02 kế hoạch, 03 quyết định, 14 thông báo kết luận. Về an ninh-quốc phòng, ban hành 02 thông tư, 02 nghị quyết, 01 chương trình, 03 quyết định, 09 kết luận. Về xây dựng Đảng, ban hành 01 nghị quyết, 03 chương trình, 03 thông tri, 19 kế hoạch, 600 quyết định, 23 kết luận, 65 thông báo kết luận… Nhìn chung, 2 năm đầu nhiệm kỳ, Đảng bộ thành phố đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX nhiệm kỳ (2010-2015) đề ra.

Trên lĩnh vực phát triển kinh tế: Do triển khai thực hiện tốt các chương trình, đề án, các nhóm giải pháp phát triển kinh tế-xã hội cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân nên tốc độ phát triển kinh tế của thành phố vẫn giữ vững nhịp độ cao.

Năm 2013, tổng giá trị gia tăng ước đạt 4.115,8 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ, đạt 101,7% kế hoạch; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ. Năm 2011, dịch vụ chiếm 48,16%, đến năm 2013 chiếm 55,1%; công nghiệp-xây dựng năm 2011 chiếm 49,74%, đến năm 2013 chiếm 43,2%; nông-lâm nghiệp, thủy sản năm 2011 chiếm 2,1%, năm 2013 chiếm 1,7%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 là 66,08 triệu đồng tương đương 3.478 USD, đạt 102,9% kế hoạch, tăng 55,5% so với cùng kỳ, năm 2012 là 73,12 triệu đồng, tương đương 3.656 USD, đạt 102,8% kế hoạch, tăng 5,1% so với cùng kỳ, năm 2013 ước đạt 85,3 triệu đồng tương đương 4.060 USD bằng 100,8% kế hoạch, tăng 11,1% so với cùng kỳ.

Trên lĩnh vực công nghiệp-xây dựng do gặp nhiều khó khăn tác động của thị trường, chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ, nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI giá trị sản xuất đạt thấp hơn so với cùng kỳ, cá biệt có doanh nghiệp phải ngừng sản xuất.

Các hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn vẫn có bước phát triển, trở thành ngành kinh tế quan trọng của thành phố, chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế. Các ngành tài chính, tín dụng, bưu chính viễn thông, khách sạn, nhà hàng, vận tải… doanh thu đạt khá. Năm 2012, tổng giá trị gia tăng ngành dịch vụ ước đạt 1851,8 tỷ đồng, tăng 25,2% so với cùng kỳ, đạt 101,8% kế hoạch. Tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ năm 2013 ước đạt 3.591 tỷ đồng, tăng 24,3% so với cùng kỳ.

Mặc dù diễn biến thời tiết phức tạp nhưng do có sự lãnh đạo, chỉ đạo của thành phố nên các xã, phường đã chủ động khắc phục khó khăn, tập trung cho sản xuất. Năm 2011, năng suất lúa của thành phố vẫn đạt 52,5 tạ/ha, tăng 7,71% so với cùng kỳ; năm 2013 năng suất lúa đạt 54,03 tạ/ha. Năm 2012, giá trị gia tăng ngành nông nghiệp ước đạt 62,3 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ, đạt 98,9% kế hoạch; năm 2013 ước đạt 65,3 tỷ đồng bằng 101,2% kế hoạch, tăng 4,8% so cùng kỳ.

Thành phố tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại xã Định Trung và Thanh Trù, trong đó xã Định Trung được xác định là xã trọng điểm về xây dựng nông thôn mới. Qua theo dõi đánh giá, đến năm 2012 xã Định Trung đạt 14/19 tiêu chí, xã Thanh Trù đạt 5/19 tiêu chí.

Những năm đầu nhiệm kỳ do khó khăn về khách quan nên nguồn thu ngân sách thành phố gặp nhiều khó khăn. Tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố năm 2013 ước đạt 1.941,329 tỷ đồng bằng 159% dự toán tỉnh giao, 112,3% dự toán thành phố giao, tăng 72% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách năm 2013 ước đạt 752,429 tỷ đồng, trong đó chi ngân sách thành phố là 613,04 tỷ đồng, bằng 172% dự toán tỉnh giao, 101% dự toán thành phố giao và tăng 6,7% so với cùng kỳ. Chi ngân sách cấp xã, phường là 139,382 tỷ đồng.

Công tác quy hoạch quản lý đô thị, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ bản và tài nguyên môi trường từ năm 2011-2013 có nhiều chuyển biến tích cực, công tác chỉnh trang đô thị được quan tâm đầu tư, từng bước tạo được diện mạo của thành phố xanh, sạch, đẹp.

Công tác quy hoạch được Thành ủy, UBND thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện theo đúng quy hoạch được tỉnh phê duyệt, từng bước hoàn thành quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết theo từng giai đoạn cho các xã, phường. Việc triển khai xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố hiện tại cũng như những năm tiếp theo. Chỉ đạo các phòng, ban chức năng và xã, phường phối hợp với đơn vị tư vấn kiểm tra, rà soát tính toán nhu cầu sử dụng đất của các dự án trên địa bàn để hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất, trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Ban Thường vụ Thành ủy đã chỉ đạo UBND thành phố kiểm tra, rà soát triển khai thực hiện quy hoạch và bổ sung quy hoạch các trường học thuộc thành phố quản lý. Việc đầu tư xây dựng, cải tạo, sửa chữa các trường học đang được triển khai đồng bộ theo đúng quy hoạch.

Công tác xây dựng cơ bản thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, thành phố đã rà soát, cắt giảm 4 dự án mới năm 2011. Nhìn chung tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn còn chậm, chủ yếu là do việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản. Công tác phê duyệt dự án đầu tư được thực hiện đúng quy định. Năm 2013, thành phố đã phê duyệt 231 dự án được cấp phép đầu tư gồm 160 dự án trong nước với số vốn đăng ký là 7.114,71 tỷ đồng và 71 dự án nước ngoài với số vốn đăng ký 485,53 triệu USD. Làm tốt công tác quản lý xây dựng nhà ở tư nhân tại các tuyến đường nội thành, các khu dân cư quy hoạch mới được thực hiện đúng quy định. Thực hiện chương trình phát triển giao thông giai đoạn 2011-2015, thành phố đã triển khai nhiều dự án như lát hè đường, xây dựng một số tuyến đường nội thành. Các xã, phường tích cực triển khai công tác phát triển giao thông nông thôn, tiêu biểu là các đơn vị: Định Trung, Đồng Tâm, Hội Hợp, Khai Quang. Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được triển khai dưới nhiều hình thức. Thực hiện tốt công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

Cùng với phát triển kinh tế, Đảng bộ thành phố quan tâm đến công tác giáo dục-đào tạo một cách toàn diện cả về cơ sở vật chất cho các nhà trường, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp dạy và học. Ngày 25/5/2011, Thành ủy Vĩnh Yên đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo thành phố Vĩnh Yên đến năm 2015” và chỉ đạo các ngành chức năng đẩy mạnh việc thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thành phố Vĩnh Yên giai đoạn 2011-2015”. Để thực hiện nghị quyết và đề án về giáo dục-đào tạo, thành phố xây dựng 4 chương trình là: Chương trình nâng cao chất lượng, nâng cao đội ngũ giáo viên, nhân viên; chương trình nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; chương trình xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trường chuẩn quốc gia; chương trình ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng giáo dục. Sau một năm triển khai thực hiện chương trình, nhiều chỉ tiêu đặt ra đã đạt và vượt kế hoạch đề ra. Chất lượng giáo dục, mũi nhọn đạt kết quả tốt. Thành phố đạt nhiều giải học sinh giỏi cấp quốc gia và tỉnh.

Công tác y tế tiếp tục được củng cố và tăng cường cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y, bác sỹ. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được coi trọng. Chất lượng khám, chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ y tế được tăng cường. Công tác y tế dự phòng được quan tâm chú trọng. Ngăn chặn kịp thời các dịch bệnh không để bùng phát thành dịch lớn. Tiến hành kiểm tra định kỳ, đột xuất công tác hành nghề y, dược tư nhân, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn.

Công tác truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được tuyên truyền rộng khắp và thường xuyên. Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em và dân số, kế hoạch hóa gia đình được quan tâm thực hiện như: Xây dựng quĩ bảo trợ trẻ em; tổ chức thăm, tặng quà cho các cháu có hoàn cảnh khó khăn, con em các gia đình đối tượng, chính sách của thành phố.

Hoạt động văn hóa, thông tin, truyền thanh, truyền hình và các hoạt động văn hóa, thể thao được quan tâm và thực hiện có hiệu quả phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị ở địa phương và đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng tăng của nhân dân. Công tác tuyên truyền tập trung vào việc tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh “Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tuyên truyền cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, tuyên truyền công tác kiểm tra nhà nước về các hoạt động văn hóa thông tin được thực hiện thường xuyên, chấn chỉnh kịp thời các quy định của nhà nước và địa phương.

Công tác xây dựng làng, xã, khu phố, gia đình văn hóa được phát triển sâu rộng. Năm 2011, tỷ lệ gia đình đạt văn hóa là 88%, tăng 2% so với cùng kỳ. Tỷ lệ làng, khu phố văn hóa đạt 76%, tăng 1,4% so với cùng kỳ. Số cơ quan, đơn vị đạt văn hóa là 100%. Thực hiện tốt các quy định của nhà nước về việc cưới, việc tang, lễ hội… Năm 2012, thành phố xây dựng được 2/3 nhà văn hóa cấp xã, phường đạt 66% kế hoạch; xây dựng 14 nhà văn hóa thôn, làng, tổ dân phố; xây dựng 17 cổng trào tại các khu dân cư đạt 56,6% kế hoạch. Đến nay, toàn thành phố đã thành lập được 65 CLB văn nghệ, 40 CLB thể thao; xây dựng 02 nhà văn hóa cấp phường, 23 nhà văn hóa thôn, tổ dân phố đưa tổng số thôn, tổ dân phố có nhà văn hóa đạt 84 đơn vị. Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 88%, tỷ lệ khu phố văn hóa đạt 76%.

Việc thực hiện các chế độ chính sách, đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội được các cấp, các ngành quan tâm bằng các việc làm thiết thực như: Chi trả kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng chế độ theo quy định. Tổ chức tốt việc thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình chính sách, người có công, các thương binh, gia đình liệt sỹ nhân dịp các ngày lễ, tết, ngày thương binh liệt sỹ 27/7. Đẩy mạnh việc xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là đối với các gia đình chính sách. Giải quyết việc làm cho người lao động thông qua chương trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Năm 2011, giải quyết việc làm cho 1600 lao động. Hộ nghèo năm 2012 còn 3,42%, giảm 0,96% so với năm 2011. Năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,81%.

Công tác đảm bảo an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được Thành ủy đặc biệt quan tâm. Chỉ tính riêng năm 2013, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành nhiều văn bản đề chỉ đạo trên lĩnh vực này như: Chương trình hành động phòng, chống ma túy; Nghị quyết số 09/CP; Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm... Đồng thời chỉ đạo tốt cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII và bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, đảm bảo tốt an ninh trật tự trước, trong và sau tết nguyên đán và các sự kiện chính trị lớn hàng năm. Chỉ đạo công an thành phố tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm về trật tự giao thông, cờ bạc, ma túy… Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ đảng viên và nhân dân. Tích cực đẩy mạnh phong trào quần chúng nhân dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tiếp tục duy trì tốt mô hình xã, phường bình yên văn hóa.

Công tác quân sự, quốc phòng được tập trung vào việc xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn cho lực lượng dân quân, tự vệ. Duy trì nghiêm túc công tác hậu cần, tài chính, bảo quản bảo dưỡng vũ khí, trang, thiết bị. Công tác tuyển quân được tiếm hành đảm bảo đúng đối tượng, quy định, số lượng và chất lượng. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ chính sách đối với các đối tượng tham gia bảo vệ Tổ quốc làm nhiệm vụ quốc tế tại Camphuchia và Lào sau ngày 30/4/1975.

Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có nhiều chuyển biến tích cực, một số vụ việc tồn đọng kéo dài nhiều năm được lãnh đạo thành phố chỉ đạo các ngành chức năng xem xét giải quyết. Những kết quả trên đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố.

Bộ máy chính quyền từ thành phố đến cơ sở tiếp tục được củng cố, đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ được đặt ra, chấp hành nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy, có nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả quản lý, điều hành trên các lĩnh vực. Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới trong phương thức hoạt động, bám sát các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy để thể chế hóa thành nghị quyết để tổ chức thực hiện. Nâng cao chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri, tập hợp đầy đủ ý kiến, kiến nghị của cử tri để kiến nghị với các cấp có thẩm quyền. Tổ chức các cuộc giám sát công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện chính sách đất địch vụ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giám sát các cơ quan chức năng của thành phố và các xã, phường trả lời các kiến nghị của cử tri thành phố sau các kỳ họp của HĐND thành phố.

UBND đã kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, nghị quyết của HĐND, có nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành trên các lĩnh vực của thành phố. Thực hiện nghiêm các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các vi phạm. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân có bước chuyển biến tích cực. Chỉ đạo tiếp tục thực hiện tốt đề án xây dựng nông thôn mới ở xã Định Trung và Thanh Trù.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều cố gắng tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, bám sát nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị để xây dựng chương trình công tác phù hợp và hướng mạnh về cơ sở, tiếp tục thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chủ động tham mưu với cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp quần chúng. Các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phát huy dân chủ từng bước được tăng cường, góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Nâng cao công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ 2010-2015 tiếp tục được Đảng bộ quan tâm, chú trọng. Trước hết là việc tổ chức các hội nghị quán triệt, học tập các nghị quyết của Đảng một cách kịp thời để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên. Chỉ đạo truyên truyền thực hiện tốt Chỉ thị số 05 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý đô thị, Nghị quyết số 06 của Ban Thường vụ Thành ủy về về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy trong công tác quản lý đất đai và xây dựng trên địa bàn. Đặc biệt là Thành ủy làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm tự phê bình, phê bình tập thể, cá nhân các đồng chí trong Ban Thường vụ Thành ủy theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIV về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nội dung kiểm điểm đã bám sát nội dung, yêu cầu của nghị quyết Trung ương 4 đề ra. Quá trình kiểm điểm tự phê bình, phê bình và tiếp thu ý kiến tham gia, góp ý, phê bình của tổ chức, cá nhân với tập thể và từng đồng chí ủy viên Ban Thường vụ. Tập thể và cá nhân các đồng chí Ban Thường vụ Thành ủy đã nhận thức sâu sắc hơn về những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế của mình và những nguyên nhân dẫn đến hạn chế, khuyết điểm, để từ đó đề ra những phương hướng khắc phục, sửa chữa. Kết quả kiểm điểm của Ban Thường vụ Thành ủy theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) được tổ công tác của Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo đánh giá là đạt được mục đích, yêu cầu quy định. Sau kiểm điểm, Ban Thường vụ Thành phố đã kịp thời đề ra một số nhiệm vụ cấp bách cần triển khai ngay để khắc phục những tồn tại. Đồng thời chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, chi, Đảng bộ trực thuộc nghiêm túc chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm tự phê bình, phê bình nghị quyết Trung ương 4 theo đúng kế hoạch đề ra.

Công tác quy hoạch cán bộ thành phố rà soát, bổ sung theo đúng Hướng dẫn số 05-HD/TU của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về công tác quy hoạch cấp ủy và cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2010-2015. Công tác quy hoạch cán bộ được triển khai đảm bảo dân chủ, công khai theo phương châm “động” và “mở” được quán triệt và thực hiện trong quá trình rà soát, bổ sung quy hoạch. Công tác đánh giá cán bộ đảm bảo tập trung, dân chủ, khách quan, công khai. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ được Thành ủy quan tâm, chú trọng. Từ năm 2011-2012, Thành ủy đã cử 8 đồng chí đi đào tạo thạc sỹ, 11 đồng chí đi học cao cấp lý luận, 2 đồng chí đi thi chuyên viên chính và cao cấp. Năm 2011, thành phố đề bạt, bổ nhiệm 12 đồng chí (trong đó cấp trưởng là 7 đồng chí, cấp phó là 5 đồng chí). Năm 2013 bổ nhiệm và bổ nhiệm lại 12 đồng chí lãnh đạo các phòng, ban, ngành của thành phố; tuyển dụng 05 đồng chí công chức; bổ nhiệm lại cán bộ quản lý 04 đồng chí; đề bạt, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ quản lý 24 đồng chí; bổ nhiệm nhân sự theo phân cấp ngành dọc quản lý 03 đồng chí; chỉ định cấp ủy viên BCH chi bộ, đảng bộ cơ sở 25 đồng chí; chuẩn y kết quả Bí thư, phó bí thư, ủy viên BTV chi bộ, đảng bộ cơ sở 15 đồng chí. Công tác luân chuyển cán bộ được thực hiện hàng năm theo đúng tinh thần chỉ đạo của trên.

Năm 2011, thành phố thành lập thêm 2 Đảng bộ (Đảng bộ Bệnh viện y học cổ truyền Vĩnh Phúc và Đảng bộ Bệnh viện Đa khoa thành phố), thành lập 2 chi bộ (chi bộ Bệnh viện sản nhi Vĩnh Phúc và Chi cục thi hành án dân sự thành phố). Bàn giao 06 chi, Đảng bộ với 85 đảng viên về Đảng ủy khối doanh nghiệp tỉnh. Tính đến năm 2012 tổng số chi, Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ thành phố là 40 (tổng số chi bộ trực thuộc chi, Đảng bộ cơ sở là 251). Tổng số đảng viên trong Đảng bộ thành phố là 5090. Năm 2011, thành phố kết nạp 165 đảng viên mới, năm 2012 kết nạp 160 đảng viên mới. Năm 2011 làm thủ tục xét, đề nghị tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng là 113 đồng chí, 40 năm tuổi Đảng cho 68 đồng chí, 50 năm tuổi Đảng cho 21 đồng chí, 60 năm tuổi Đảng cho 10 đồng chí. Năm 2012 làm thủ tục xét, đề nghị tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng trở lên cho 481 đồng chí. Năm 2013, thành phố đề nghị trao tặng huy hiệu 30, 40, 50, 55, 60, 65 năm tuổi Đảng cho tổng số 176 đồng chí.

Qua kiểm tra, đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên của Đảng bộ thành phố năm 2012: Đơn vị được xếp loại trong sạch, vững mạnh là 33, chiếm 82,5% (trong đó có 9 đơn vị đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, bằng 27,2%); số đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ là 6 đơn vị, chiếm 15%; số đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ là 01 đơn vị, bằng 2,5%. Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ là 3241 đảng viên; đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ là 644 đảng viên; vi phạm tư cách là 23 đảng viên (số đảng viên dự đánh giá chất lượng là 4600, miễn đánh giá là 490). Công tác kiểm tra, giám sát được Thành ủy chi đạo UBKT các cấp trong Đảng bộ thành phố bám sát chương trình, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và chương trình kiểm tra, giám sát của UBKT Tỉnh ủy để chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp mình. Nội dung kiểm tra được tập trung vào việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy, nguyên tắc tập trung dân chủ, việc thực hành tiết kiệm chống lãnh phí, phòng, chống tham nhũng, quản lý sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng, phân bổ ngân sách… Quan tâm chỉ đạo việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của Điều lệ Đảng.

Công tác phát triển Đảng: Năm 2013, Ban Thường vụ Thành uỷ đã ra quyết định kết nạp Đảng cho 173 đảng viên mới; chuyển Đảng chính thức cho 177 đảng viên dự bị; số đảng viên chuyển đến là 224; số đảng viên chuyển đi là 78 đồng chí.

UBKT Thành ủy tổ chức tốt các hội nghị: Quán triệt, triển khai thực hiện Thông báo kết luận số 68-TB/TW ngày 30/12/2011 của Bộ Chính trị về sơ kết 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) và các hướng dẫn của UBKT Trung ương. Kết quả của công tác kiểm tra năm 2011 đã xử lý kỷ luật 3 đảng viên, năm 2012 xử lý kỷ luật 9 đảng viên. Năm 2013, UBKT Thành ủy đã tiến hành kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm đối với 07 đảng viên (đạt 140% so với kế hoạch); kiểm tra 03 tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm (đạt 100% so với kế hoạch); kiểm tra 05 tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; kiểm tra 05 đơn vị cơ sở về thi hành kỷ luật trong đảng, qua kiểm tra phát hiện 02 đơn vị có 02 đảng viên vi phạm bị thi hành kỷ luật; giám sát chuyên đề  06 tổ chức đảng (đạt 100% kế hoạch) và giám sát 54 đảng viên, đạt 100% kế hoạch, tăng 03 đảng viên so với cùng kỳ; giám sát thường xuyên tổ chức đảng cấp dưới đối với 40 tổ chức đảng cơ sở.

Công tác dân vận tập trung vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của tỉnh và thành phố, nhất là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện chính sách đất dịch vụ, trật tự đô thị, quản lý đất đai, xây dựng trên địa bàn. Nắm bắt tình hình tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nhìn chung, công tác dân vận của Đảng được quan tâm, chú trọng, triển khai có chiều sâu, góp phần phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Công tác dân vận của chính quyền có nhiều đổi mới, tích cực, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ và công tác cải cách hành chính, công tác xây dựng mô hình “dân vận khéo”. Việc thực hiện chế độ chính sách, an sinh xã hội được đảm bảo thực hiện tốt. Nhìn chung, công tác dân vận trong những năm qua đã góp phần tích cực để Đảng bộ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ thành phố đề ra.