Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở Vĩnh Yên trước khi có Đảng lãnh đạo

16/08/2017

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã chiếm đóng Vĩnh Yên. Về chính trị, việc trước tiên là lập bộ máy chính quyền của người Pháp và bọn tay sai.

Chính quyền cai trị của Pháp gồm có Chánh sứ, Phó sứ, Giám binh, Tuần phủ, Án sát, Sở cầm, trại lính, cảnh sát. Về phía quan lại tay sai, ở các phố có trưởng phố, ở xã có lý trưởng và bọn tay chân.

Với chính sách chia để trị, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc chia rẽ các tầng lớp nhân dân địa phương. Chúng xúi giục bọn tay sai gây phân biệt giữa người dân các xã vùng ven với người dân nội thị; gây mâu thuẫn giữa các tôn giáo bằng cách lấy người theo đạo Thiên chúa giáo đi càn quét các vùng người theo đạo Phật. Ở thị trấn Tam Đảo, chúng lập một làng người Việt làm thuê gọi là làng An Nam. Làng này ở riêng biệt và không được đi lại qua khu vực người Pháp ở. Đối với các xã vùng ven, tầng lớp cai trị trực tiếp là địa chủ cường hào. Để dễ bề cai trị, bọn thống trị gieo giắc oán thù giữa các làng, các dòng họ. Mỗi làng đều có đình riêng, sinh hoạt theo những quy ước luật lệ riêng, biệt lập, cuộc sống khép kín, tự cấp tự túc, thiếu sự quan hệ giao lưu. Song song với những thủ đoạn chính trị trên, thực dân Pháp còn lập một số đảng phái và các tổ chức phản động để tuyên truyền, ca ngợi bọn xâm lược, lôi kéo thanh niên đi lính cho giặc; chia rẽ gây mất đoàn kết trong nhân dân. Tất cả những việc làm đó đưa lại hậu quả là tha hóa về tinh thần, lối sống của người dân, trong đó có thanh niên nhằm mê hoặc, ru ngủ họ để chúng dễ bề cai trị.

Về kinh tế: Từ xa xưa nghề chính của đa số nhân dân Vĩnh Yên là sản xuất nông nghiệp: Trồng lúa, hoa màu, rau quả, chăn nuôi, đánh bắt tôm cá, chế biến nông sản… Bên cạnh đó cũng đã sớm phát triển các nghề thủ công, buôn bán dịch vụ.

Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa trên các chân ruộng ven đồi, ven lạch, đầm hồ. Nhiều cánh đồng được nhân dân khai khẩn, bồi đắp màu mỡ như khu vực đồng đất Cầu Oai (Tích Sơn), Đồng Tâm, Hội Hợp, khu đồng Liên Bảo… đã trồng được lúa, hoa màu chất lượng có tiếng lan truyền trong câu “Lúa đồng Oai, khoai đồng Bầu” hay như “Tép đầm Vạc, lạc chợ Cói”.

Đầm Vạc là nơi phong phú về thủy sản, xưa kia nhiều gia đình đã sống bằng nghề đánh bắt tôm cá ở đầm này. Trong đó, tép dầu là sản phẩm đặc biệt đã được nhân dân Vĩnh Yên khai thác, chế biến thành món ăn “đặc sản”. Trong nhân dân quanh vùng đã có câu: “Cỗ chín lợn, mười trâu không bằng tép dầu đầm Vạc”.

Chế biến thực phẩm là nghề được phát triển từ hơn 100 năm nay, bằng sự lao động cần cù, tài hoa của mình, người dân Vĩnh Yên đã chế biến được nhiều món ăn có tiếng như: Giò luạ, chả, đặc biệt là nem chua (sản phẩm nem chua đã từng được giải nhất trong hội chợ toàn Bắc kỳ thời Pháp thuộc) tại nhà Đấu Xảo Hà Nội.

Từ những lợi thế riêng có của một đô thị, cho nên Vĩnh Yên có đủ điều kiện phát triển ngành thương mại, dịch vụ. Chợ Vĩnh Yên có từ lâu đời, là một trong những trung tâm trao đổi hàng hóa của khu vực với các tỉnh lân cận.

Một số ngành nghề thủ công khác cũng được phát triển khá sớm ở thành phố. Đó là nghề đan lát, may mặc và nghề gốm cổ. Nghề gốm cổ được phát triển mạnh ở đầu thế kỷ XX và được duy trì cho đến những năm 70. Hai xã Định Trung và Khai Quang là khu vực tập trung đông nhất các lò gốm cổ của Vĩnh Yên.

Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản xâm lược xong nước ta, đồng thời với việc thành lập bộ máy cai trị, về kinh tế thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Chúng tập trung đầu tư và nắm giữ một số ngành kinh tế đem lại lợi nhuận cao như: Xuất nhập khẩu, khai thác mỏ, giao thông, ngân hàng. Bên cạnh đó, chúng vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu.

Thực dân Pháp còn đặt ra hệ thống các thứ thuế như: Thuế đinh, thuế điền, thuế thổ cư, thuế chợ, thuế xe tay, thuế trâu bò… Trong đó nặng nhất là thuế đinh, chúng nắm độc quyền buôn bán lúa gạo. Trên địa bàn thị xã có hơn 10 tư sản thương nghiệp, đa số kinh doanh lúa gạo, trong đó có những tên tư sản kiêm địa chủ, tư sản gốc Hoa. Từ mục đích khai thác thuộc địa để vơ vét, bóc lột nên thực dân Pháp không chú trọng phát triển các cơ sở công nghiệp.

Trong khi ấy, sản xuất nông nghiệp bị đình đốn do tô thuế cao, do nạn cướp ruộng của địa chủ và tư sản kiêm địa chủ. Sản xuất thủ công, buôn bán bị chèn ép không phát triển được, hoặc phát triển chậm. Tình hình ruộng đất và kinh tế nông thôn của các xã ven thị lúc này cũng chứa đựng đầy những mâu thuẫn gay gắt. Làng Lạc Ý xưa (nay thuộc phường Đồng Tâm) là làng thuần nông mà 70% ruộng đất nằm trong tay địa chủ, có những tên địa chủ như: Tổng Tằng, Tổng Tứ, mỗi tên cũng chiếm hàng chục mẫu ruộng của nhân dân bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Phường Hội Hợp xưa có tới 76% đất canh tác thuộc về các địa chủ. Địa chủ Phan Cao Đoán chiếm tới 280 mẫu đất; địa chủ Dương Tự Quán chiếm 36 mẫu… 

Về văn hóa xã hội: Vĩnh Yên là nơi có truyền thống văn hóa rất sớm, có nhiều danh thắng nổi tiếng. Truyền thống văn hóa đó được ghi lại trong các hương ước, kiến trúc đình chùa, trong các lễ hội và các sinh hoạt văn hóa khác… Từ lâu đời, nhân dân Vĩnh Yên đã có truyền thống hiếu học. Tại phường Liên Bảo còn có dấu tích của một văn tự cổ, nơi đây thờ Khổng Tử và những người đỗ đạt cao, đồng thời còn là nơi dạy học của các nhà nho sỹ trong vùng (địa điểm cạnh trường THPT Trần Phú ngày nay).

Trong các loại hình lễ hội truyền thống của Vĩnh Yên, ngoài lễ hội ở Tích Sơn, còn kể đến lễ hội “Múa Mo” (dùng mo cau để hóa trang) hay “Múa tứ dân” biểu tượng cho 4 thành phần chủ yếu của xã hội gồm: Sỹ, nông, công, thương được tổ chức ở phường Khai Quang. Lễ hội được tổ chức vào ngày 9 tháng giêng hàng năm, đây là lễ hội thể hiện nét đặc sắc văn hóa cổ của Vĩnh Yên đã tôn vinh 4 nghề cơ bản của xã hội, trong đó việc học được xếp ở vị trí hàng đầu được giữ gìn và bảo tồn tới ngày nay.

Truyền thống văn hóa còn được thể hiện sâu đậm trong các kiến trúc cổ. Thành phố hiện còn tới gần trăm ngôi đình, đền, chùa, miếu. Chùa Tích Sơn ngày nay, trước kia được xây dựng trên đỉnh đồi cao (An Sơn), sau được thực dân Pháp chuyển đến địa phận phường Tích Sơn, là một ngôi chùa cổ tên là Ngũ Phúc Tự. Đình Đông Đạo là một trong những công trình văn hóa kiến trúc cổ được xây dựng cuối thời Hậu Lê (cuối thế kỷ XVIII). Hai di tích này được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa. Ngoài ra, thành phố còn có chùa Hà Tiên, chùa Đông Phú, chùa Cói, chùa Linh Sơn, đền Đức Thánh Trần, đình Tiên Sơn… được tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa. Như vậy, những kiến trúc cổ đó đã tạo nên cho Vĩnh Yên một bản sắc văn hóa sâu đậm, vừa mang tính dân tộc cộng đồng, vừa mang tính riêng biệt của địa phương.

Vĩnh Yên còn có một thắng cảnh nổi tiếng là: Khu nghỉ mát Tam Đảo, cách trung tâm thành phố 24 km về phía Bắc. Khu nghỉ mát Tam Đảo ở độ cao 900 m, trên núi Tam Đảo có rừng nguyên sinh bao phủ, với nhiệt độ trung bình là 18 độ, hàng năm, là nơi du lịch nổi tiếng của cả nước. Tam Đảo không chỉ là nơi nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái đặc sắc mà còn là một địa danh trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc nói chung và của Vĩnh Yên nói riêng.

Thành phố Vĩnh Yên dưới thời Pháp thuộc đã hình thành một số tầng lớp giai cấp mới. Giai cấp tư sản chủ yếu là tư sản thương nghiệp buôn bán lúa gạo, tạp hóa, thuốc phiện. Nhiều tên tư sản kiêm địa chủ có ruộng đất cho thuê như Ký Cự có 300 mẫu, Lý Dự có 120 mẫu. Một số tên còn giữ các chức vụ trong chính quyền tay sai, có những tên phản động rất gian ác như Đỗ Đình Đạo, Quản Phùng cam tâm làm tay sai cho giặc và chống phá cách mạng rất quyết liệt. Bên cạnh một số nhà tư sản dân tộc mới hình thành, tầng lớp tiểu tư sản và những tri thức, học sinh, những người làm công cho các sở của Pháp; những người tiểu thương buôn bán nhỏ ngày càng đông. Tầng lớp này chiếm phần lớn dân số trong khu vực nội thị và ngày càng có xu hướng phát triển theo mức độ đô thị hóa của thị xã trong 2 thập niên đầu của hế kỷ XX. Họ là những người nhạy cảm với thời cuộc và có tinh thần yêu nước căm ghét thực dân xâm lược và phong kiến tay sai.

 

Nguồn: Lịch sử Đảng bộ thành phố

Các tin đã đưa ngày: